Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 23/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Minh Tân và ông Trần Thế Dũng

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Kim Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy P - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 151/2024/TLST- HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST- HS ngày 06/01/2025, đối với các bị cáo:

1. Hà Ngọc T; sinh ngày 16/5/1980 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;

Chức vụ (đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên Đ4, hiện đang bị Đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 151-QĐ/UBKT ngày 08/01/2025 của Ủy ban kiểm tra Thành ủy T44;

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh;

Con ông Hà Quang T1, sinh năm 1952 và bà Lê Hương L, sinh năm 1953;

Có vợ là Chu Thị An T2, sinh năm 1989 và có 03 con, con lớn sinh năm 2006 con nhỏ sinh năm 2016;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 đến ngày 14/10/2024, hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên toà.

2. Đoàn Thị Hồng N; sinh ngày 06/3/1988 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không;

Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không;

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kế toán;

Con ông Đoàn Hữu M, sinh năm 1963 và bà Lê Thị M1, sinh năm 1965;

Có chồng là Hoàng Văn C, sinh năm 1985 và có 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016);

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Hà Đình T3, sinh năm 1973

Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt.

- Chi cục Thuế khu vực thành phố Tuyên Quang - Yên Sơn

Địa chỉ: Số 6, đường Bình Thuận, tổ dân phố 07, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tạ Văn T4; chức vụ: Chi cục trưởng

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Tuấn A; chức vụ: Đội trưởng Đội Kiểm tra thuế số 1. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Ông Ngô Văn T5, sinh năm 1972

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt.

- Ông Hoàng Trung T6, sinh năm 1973

Địa chỉ: Thôn A, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X2 (gọi là Công ty X2), địa chỉ: Số A, đường C, tổ dân phố B, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, ngành nghề kinh doanh chính là thi công các công trình xây dựng. Công ty X2 có mã số doanh nghiệp là 5000645889, được Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh T cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 07/3/2011, đăng ký thay đổi lần thứ 03 vào ngày 30/10/2019; Giám đốc - người đại diện theo pháp luật của công ty là ông Hà Đình T3, sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố B, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Phó Giám đốc công ty là ông Hà Ngọc T, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố B, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Kế toán công ty là Đoàn Thị Hồng N, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố B, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Trên thực tế ông T3 được Hà Ngọc T nhờ đứng tên thành lập công ty X2, còn việc quản lý, điều hành, hoạt động kinh doanh của công ty từ khi thành lập đến nay đều do T trực tiếp thực hiện và hưởng toàn bộ lợi nhuận, ông Hà Đình T3 không tham gia quản lý, điều hành công ty và không được hưởng bất cứ lợi ích gì từ hoạt động của công ty.

Từ năm 2020, do dịch bệnh Covid-19 bùng phát, kinh tế gặp nhiều khó khăn, Công ty X2 không trúng thầu thi công được nhiều công trình xây dựng nên để tối ưu hóa lợi nhuận, giảm tiền thuế phải nộp cho Nhà nước, Hà Ngọc T đã nảy sinh ý định trốn thuế thu nhập doanh nghiệp.

Để thực hiện hành vi trốn thuế, thông qua các mối quan hệ xã hội (quá trình điều tra không xác định được cá nhân cụ thể), Hà Ngọc T thu thập được nhiều chứng minh nhân dân, căn cước công dân của nhiều cá nhân sinh sống trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và một số tỉnh, thành phố khác với mục đích lập khống hồ sơ để trốn thuế. Ngoài ra, T liên hệ với ông Ngô Văn T5, trú tại tổ dân phố A, phường M và ông Hoàng Trung T6, trú tại thôn A, xã K, thành phố T là những người làm thuê cho Công ty X2 nhờ tìm thuê một số nhân công thi công các công trình xây dựng cho Công ty X2.

Các nhân công do ông T5, ông T6 thuê không ký hợp đồng lao động với Công ty X2 nhưng có làm việc, được nhận lương do Công ty X2 chi trả, mức lương khác nhau tuỳ theo số ngày công làm việc thực tế. Tuy nhiên, để có cơ sở lập hợp đồng lao động khống thì T nhờ ông T5, ông T6 thu thập chứng minh nhân dân, căn cước công dân của các nhân công lao động thuê thực tế nhưng không nói cho họ biết mục đích thu thập chứng minh nhân dân, căn cước công dân để lập khống hồ sơ thuê nhân công, hợp thức đầu vào, mục đích trốn thuế thu nhập doanh nghiệp.

Sau khi thu thập được các chứng minh nhân dân, căn cước công dân, T cùng kế toán Đoàn Thị Hồng N thống nhất và T chỉ đạo N lập các hợp đồng lao động, bảng thanh toán tiền lương khống cho Công ty X2 để làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh, từ đó làm giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước. Sau khi hoàn thiện chứng từ, N ký tên vào mục người lao động trong các hợp đồng và tự ký vào tên người nhận tiền trong các bảng lương. Sau đó N và Tân chuyển các hợp đồng, bảng lương khống cho ông Hà Đình T3 ký. Do tin tưởng T là em ruột nên ông T3 ký vào các hợp đồng và bảng lương này, không biết đây là những tài liệu lập khống để trốn thuế.

Về việc kê khai, báo cáo thuế với cơ quan thuế, do được thực hiện trên phần mềm nên T chỉ đạo N trực tiếp thực hiện, sử dụng chữ ký số của Công ty để ký chứng từ gửi cơ quan thuế. Việc N sử dụng chữ ký số của ông T3 trên phần mềm kê khai, báo cáo thuế trên, N tự ý thực hiện theo chỉ đạo của T, không báo cáo và không được sự đồng thuận của ông T3.

Theo chỉ đạo của T, trong các năm 2020, 2021, 2022 và 2023, N lập khống các hợp đồng lao động, nâng khống tiền lương chi trả thi công công trình để quyết toán hết số tiền nhân công theo dự toán được duyệt; sử dụng các chứng từ này làm căn cứ xác định chi phí tiền lương, tiền công, từ đó làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh, giảm thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp của Công ty X2. Cụ thể:

* Năm 2020: Theo Báo cáo tài chính và Báo cáo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 thì Công ty X2 có doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ là 8.857.763.755 đồng. Để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng, T chỉ đạo N lập khống 95 hợp đồng lao động với 95 cá nhân, trong đó:

- Lập khống 92 hợp đồng lao động với 92 cá nhân không làm việc cho công ty X2, không được nhận tiền lương từ Công ty, với tổng số tiền lương kê khai khống là 765.300.000 đồng, bao gồm: Hà Văn H, sinh năm 1971, trú tại thôn K, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; Giàng Thanh C1, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã X, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; Chẩu Văn Á, sinh năm 1981, trú tại thôn N, xã T, huyện L; Tề Minh D, sinh năm 1976, trú tại thôn N, xã T, huyện L; Ma Duy Khắc C2, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã T, huyện L; Hoàng Văn T7, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã K, huyện L; Bàn Tòn G, sinh năm 1968, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Chẩu Văn T8, sinh năm 1984, trú tại thôn N, xã L, huyện L; Ma Thị D1, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã B, huyện L; Ma Công T9, sinh năm 1984, trú tại thôn C, xã B, huyện L; Ma Thị H1, sinh năm 1985, trú tại thôn C, xã B, huyện L; Ma Văn T10, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã B, huyện L; Ma Đức Q, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã B, huyện L; Ma Văn S, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã B, huyện L; Phương Văn M2, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã B, huyện L; Ma Công T11, sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã B, huyện L; Ma Văn T12, sinh năm 1969, trú tại thôn C, xã B, huyện L; Ma Thị L1, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Chẩu Thị U, sinh năm 1979, trú tại thôn N, thị trấn L, huyện L; Lý Thị G1, sinh năm 1990, trú tại thôn P, xã P, huyện L; Vũ Văn C3, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Ma Bá N1, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã B, huyện L; Chẩu Văn M3, sinh năm 1976, trú tại thôn N, xã K, huyện L; Bàn Tiến T13, sinh năm 1976, trú tại thôn B, xã B, huyện L; Nguyễn Thị C4, sinh năm 1999, trú tại thôn T, xã T, huyện C; Nguyễn Văn L2, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã T, huyện L; Nông Văn H2, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nguyễn Thị N2, sinh năm 1977, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nguyễn Văn T14, sinh năm 1993, trú tại thôn B, xã T, huyện N; N, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nông Văn D2, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nguyễn Văn T15, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã T, huyện N; Ma Văn T16, sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Triệu Thị C5 (Triệu Thị G2), sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã P, huyện L; Triệu Thị C6 (Triệu Thị C7), sinh năm 1999, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Vàng A H3, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Hoàng Phúc T17, sinh năm 1950, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Hoàng Đình C8, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Vàng A S1, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Hoàng Thị N3, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Minh N4, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Thị X, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn T18, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Thị X1, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Hoàng Thị T19, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn N5, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn K, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Vương Văn T20, sinh năm 1985, trú tại thôn B, xã C, huyện N; Vàng A C9, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Vàng A K1, sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Bùi Thị T21, sinh năm 1963, trú tại thôn T, xã V (nay là xã H), huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Bùi Quốc L3, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã V, huyện S; Đặng Văn N6, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố M, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Đỗ Xuân H4, sinh năm 1964, trú tại tổ dân phố L, thị trấn Y, huyện Y; Nguyễn Vinh T22, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y; tỉnh Tuyên Quang; Đinh Tiến L4, sinh năm 1971, trú tại thôn T, xã T, huyện Y; Đào Thị D3, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y; Cao Xuân H5, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố N, thị trấn Y, huyện Y; Nguyễn Đức N7, sinh năm 1989, trú tại thôn C, xã H (nay là xã H), huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Trần Văn S2, sinh năm 1973, trú tại thôn C, xã H, huyện S; Ma Văn T23, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã T, huyện S; Lê Thị H6, sinh năm 1979, trú tại thôn C, xã H, huyện S; Tôn Thị N8, sinh năm 1968, trú tại thôn C, xã H, huyện S; Nguyễn Hoài P1, sinh năm 1971, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y; Hoàng Xuân T24, sinh năm 1977, trú tại thôn A, xã V, huyện S; Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã V, huyện S; Nguyễn Văn H7, sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã V, huyện S; Ma Thị T25, sinh năm 1983, trú tại thôn C, xã B, huyện L; Lương Trường G3, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã T, huyện S; Nguyễn Viết H8, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã T, huyện S; Trần Quốc H9, sinh năm 1966, trú tại tổ dân phố A, phường M, thành phố T; Nguyễn Quang H10, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã V (nay là xã H), huyện S; Lâm Văn T26, sinh năm 1989, trú tại thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang; Triệu Quý P2, sinh năm 1986, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Triệu Hữu T27, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã B, huyện L; Nguyễn Văn H11, sinh năm 1977, trú tại thôn A, xã V, huyện S; H, sinh năm 1973, trú tại thôn L, xã X, huyện C; H (không có thông tin công dân); Phúc Văn H12, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã T, huyện L; Chẩu Văn T28, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã B, huyện L; Ma Văn T29, sinh năm 1994, trú tại thôn C, xã B, huyện L; Chẩu Văn P3, sinh năm 1991, trú tại thôn P, xã B, huyện L; Ma Công T30, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã B, huyện L; Ma Thị Đ1, sinh năm 1994, trú tại thôn N, xã B, huyện L; Trương Thị P4, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố N, thị trấn L, huyện L; Đặng Văn Y, sinh năm 1977, trú tại thôn N, xã K, huyện L; Nguyễn Văn V, sinh năm 1991, trú tại thôn P, xã L, huyện C; Lương Văn Đ2, sinh năm 1975, trú tại thôn A, xã K, thành phố T; Phùng Thị T31, sinh năm 1996, trú tại xã Đ, huyện N (không có thông tin công dân); Nguyễn Văn H13, sinh năm 1972, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn L5, sinh năm 1976, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Thị H14, sinh năm 1988, trú tại thôn C, xã L, huyện Y.

- Lập khống 03 hợp đồng lao động với 03 (Ba) cá nhân không được ký hợp đồng, không được ký bảng lương nhưng có làm việc cho Công ty X2, gồm: Đỗ Thị Phương D4, sinh năm 1974, trú tại tổ dân phố C, phường N, thành phố T; Hà Quang T1, sinh năm 1952, trú tại tổ dân phố B, phường N, thành phố T, Đào Văn H15, sinh năm 1956, trú tại tổ dân phố G, phường T, thành phố T. Những người này được chi trả số tiền lương thực tế là 121.500.000 đồng nhưng trong bảng lương của công ty X2, N nâng khống số tiền lương của Đỗ Thị Phương D4, Hà Quang T1 tăng lên thêm với tổng số tiền 76.800.000 đồng.

Như vậy: Trong năm 2020, Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N đã kê khai tăng số tiền lương, tiền công thi công các công trình cao hơn thực tế, với số tiền là 842.100.000 đồng.

* Năm 2021: Theo Báo cáo tài chính và Báo cáo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2021 thì Công ty X2 có doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ là 3.665.210.000 đồng. Để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng, Hà Ngọc T đã chỉ đạo Đoàn Thị Hồng N lập khống 88 hợp đồng lao động với 88 cá nhân, trong đó:

- Lập khống 83 hợp đồng lao động với 83 cá nhân không làm việc và không được nhận lương do Công ty X2 chi trả, kê khai khống số tiền lương 694.900.000 đồng. Bao gồm: Hà Văn H, sinh năm 1971, trú tại thôn K, xã N, huyện C; Nông Văn H2, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nguyễn Thị N2, sinh năm 1977, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nguyễn Văn T14, sinh năm 1993, trú tại thôn B, xã T, huyện N; N, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nông Văn D2, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nguyễn Văn T15, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã T, huyện N; Ma Văn T16, sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Triệu Thị C5, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã P, huyện L; Vàng A H3, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Hoàng Phúc T17, sinh năm 1950, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Hoàng Đình C8, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Vàng A S1, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Hoàng Thị N3, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Minh N4, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Thị X, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn T18, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Thị X1, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Hoàng Thị T19, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn N5, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn K, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Vương Văn T20, sinh năm 1985, trú tại thôn B, xã C, huyện N; Vàng A C9, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Vàng A K1, sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Triệu Văn B, sinh năm 1985, trú tại thôn L, xã H, huyện L; Nguyễn Văn C10, sinh năm 1990, trú tại thôn N, thị trấn L, huyện L; Nguyễn Văn T32, sinh năm 1991, trú tại thôn N, thị trấn L, huyện L; Phạm Huy H16, sinh năm 2003, trú tại thôn A, xã K, thành phố T; Hoàng Thị T33, sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố D, phường M, thành phố T; Hoàng Văn C11, sinh năm 1959, trú tại thôn H, xã K, thành phố T; Nguyễn Minh T34, sinh năm 1960, trú tại tổ dân phố H, phường T, thành phố T; Nguyễn Ánh N9, sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố H, phường M, thành phố T; Bùi Văn T35, sinh năm 1964, trú tại tổ dân phố G, phường T, thành phố T; Nguyễn Văn H17, sinh năm 1964, trú tại thôn T, xã V, huyện S; Trần Văn D5, sinh năm 1981, trú tại thôn D, xã T, huyện Y; Ngô Xuân L6, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố E, phường A, thành phố T; Trương Thế H18, sinh năm 1981, trú tại thôn C, xã L, huyện Y; La Thị C12, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố F, phường M, thành phố T; Đỗ Hải L7, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y; Vũ Văn T36, sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố V, thị trấn Y, huyện Y; Khổng Văn T37, sinh năm 1985, trú tại thôn A, xã T, huyện Y; Nguyễn Văn H19, sinh năm 1973, trú tại thôn A, xã V, huyện S; Nguyễn Quang Y1, sinh năm 1976, trú tại thôn A, xã V, huyện S; Bùi Thị T21, sinh năm 1963, trú tại thôn T, xã V, huyện S; Bùi Quốc L3, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã V, huyện S; Đặng Văn N6, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố M, thị trấn Y, huyện Y; Đỗ Xuân H4, sinh năm 1964, trú tại tổ dân phố L, thị trấn Y, huyện Y; Nguyễn Vinh T22, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố P, thị trấn Y; Đinh Tiến L4, sinh năm 1971, trú tại thôn T, xã T, huyện Y; Đào Thị D3, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y; Cao Xuân H5, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố N, thị trấn Y, huyện Y; Nguyễn Ngọc L8, sinh năm 1966, trú tại thôn A, xã V, huyện S; Nông Văn H20, sinh năm 1973, trú tại thôn Q, xã T, huyện S; Nông Văn L9, sinh năm 1970, trú tại thôn Q, xã T, huyện S; Hoàng Văn C13, sinh năm 1973, trú tại thôn Q, xã T, huyện S; La Văn N10, sinh năm 1971, trú tại thôn K, xã K, huyện Y; Hoàng Văn L10, sinh năm 1986, trú tại thôn Q, xã T, huyện S; Nguyễn Khánh P5, sinh năm 1992, trú tại thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái; Dương Văn H21 (không có thông tin công dân); Phùng Thị T31 (không có thông tin công dân); Triệu Thị C6 (Triệu Thị C7), sinh năm 1999, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nguyễn Văn H13, sinh năm 1972, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn L5, sinh năm 1976, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Bùi Tất C14, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố A, phường M, thành phố T; Trịnh Thị Thanh T38 (không có thông tin công dân); Nguyễn Ngọc C15 (không có thông tin công dân); Nguyễn Đức D6, sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Phan Văn G4, sinh năm 1971, trú tại thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Hà Giang; Bàn Tòn G, sinh năm 1968, trú tại thôn L, xã X, huyện L; Tưởng Phi C16, sinh năm 1964, trú tại tổ dân phố B, phường A, thành phố T; Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1990, trú tại thôn R, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang; Đoàn Thanh T39 (không có thông tin công dân); Nguyễn Văn S3, sinh năm 1985, trú tại thôn A, xã V, huyện S; Lê Đình H22, sinh năm 1971, trú tại tổ dân phố D, phường A, thành phố T; Đỗ Văn T40, sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Ngô Văn T41, sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố T, thị trấn Y, huyện Y; Đặng Văn H23, sinh năm 1994, trú tại Khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Văn H11, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã V (nay là xã H), huyện S; Triệu Hữu L11, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã B, huyện L; Nguyễn Văn C17, sinh năm 1997, trú tại thôn A, xã V, huyện S; Lâm Văn T26, sinh năm 1989, trú tại thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang; Lâm Văn T42, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố F, phường M, thành phố T; Giàng Thanh C1, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã X, huyện L.

- Lập khống 05 hợp đồng lao động với 05 (Năm) cá nhân không ký hợp đồng lao động, không ký bảng lương nhưng có làm việc cho Công ty X2, bao gồm những người sau: Đỗ Thị Phương D4, sinh năm 1974, trú tại tổ dân phố C, phường N, thành phố T; Hà Quang T1, sinh năm 1952, trú tại tổ dân phố B, phường N, thành phố T, Đào Văn H15, sinh năm 1956, trú tại tổ dân phố G, phường T, thành phố T; Hoàng Văn H24, sinh năm 1993, trú tại thôn H, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Bùi Đình C18, sinh năm 1976, trú tại thôn B, xã K, thành phố T. Tổng số tiền lương chi trả cho những người này là 105.000.000 đồng. Tuy nhiên trong bảng lương của Công ty X2 lại kê khai khống số tiền lương 187.350.000 đồng.

Như vậy: Trong năm 2021, Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N đã kê khai tăng số tiền lương, tiền công thi công các công trình cao hơn thực tế, với số tiền là 882.250.000 đồng.

* Năm 2022: Theo Báo cáo tài chính và Báo cáo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2022 thì Công ty X2 có doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ là 5.464.497.042 đồng. Để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng, Hà Ngọc T đã chỉ đạo Đoàn Thị Hồng N lập khống 27 hợp đồng lao động với 27 cá nhân, trong đó:

- Lập khống 25 hợp đồng với 25 cá nhân không làm việc và không được nhận lương do Công ty X2 chi trả, kê khai khống số tiền lương 1.112.850.000 đồng. Bao gồm: Hà Văn H, sinh năm 1971, trú tại thôn K, xã N, huyện C; Đỗ Thị Phương D4, sinh năm 1974, trú tại tổ dân phố C, phường N, thành phố T; Nguyễn Văn T43, sinh năm 1956, trú tại tổ dân phố H, phường N, thành phố T; Trần Văn H25, sinh năm 1993, trú tại thôn Y, xã T, huyện N; Triệu Thị C5 (Triệu Thị G2), sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã P, huyện L; Vàng A H3, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Hoàng Phúc T17, sinh năm 1950, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Hoàng Đình C8, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Vàng A S1, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Vàng A C9, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã X, huyện L; Vàng A K1, sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã X, huyện L; N, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nông Văn D2, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Nguyễn Văn T15, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã T, huyện N; Ma Văn T16, sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Hoàng Thị N3, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Minh N4, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Thị X, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn T18, sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Thị X1, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Thị N2, sinh năm 1977, trú tại thôn N, xã T, huyện N; Phùng Thị T31 (không có thông tin công dân); Nguyễn Văn H13, sinh năm 1972, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Nguyễn Văn L5, sinh năm 1976, trú tại thôn N, xã C, huyện N; Lê Văn P6, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã Y, huyện H, thành phố Hà Nội.

- Lập khống 02 hợp đồng với 02 (Hai) cá nhân không được ký hợp đồng lao động, không được ký bảng lương nhưng có làm việc cho Công ty X2 là Đào Văn H15, Hà Quang T1. Số tiền lương thực tế chi trả là 45.000.000 đồng, nhưng Đoàn Thị Hồng N đã kê khai chi khống số tiền 207.000.000 đồng.

Như vậy, trong năm 2022, Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N đã kê khai tăng số tiền lương, tiền công thi công các công trình cao hơn thực tế, với số tiền là 1.319.850.000 đồng.

* Năm 2023: Theo Báo cáo tài chính và Báo cáo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2023 thì Công ty X2 có doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ là 1.886.445.913 đồng, chi phí sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là 1.658.728.221 đồng. Để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng, Hà Ngọc T đã chỉ đạo Đoàn Thị Hồng N lập khống 02 hợp đồng lao động với 02 cá nhân là Đỗ Thị Phương D4 và Đào Văn H15 (thực tế D4 và H15 không ký hợp đồng cũng không làm thuê công việc gì cho Công ty X2, không được nhận lương do Công ty X2 chi trả), kê khai không số tiền lương chi trả là 252.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra trưng cầu giám định về thuế: Tại Kết luận giám định số 816/CTTQU-GĐTP, ngày 08/8/2024 của Cục Thuế tỉnh T kết luận:

“- Hành vi lập khống các hợp đồng lao động và chi trả tiền lương không đúng số tiền ghi trên bảng lương để sử dụng làm căn cứ xác định chi phí tiền lương, tiền công không đúng thực tế, làm tăng chi phí, giảm thu nhập chịu thuế khi kê khai, quyết toán thuế TNDN, Công ty đã tính chi phí tiền lương, tiền công phải trả nhưng thực tế không chi trả đây là các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế nhưng Công ty tính vào chi phí được trừ để tính thu nhập chịu thuế TNDN khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ T45, làm giảm số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà Công ty phải nộp cho Nhà nước. Xác định là hành vi trốn thuế...Tổng số tiền thuế TNDN trốn là: 368.629.600 đồng (trong đó: năm 2020 số tiền 79.682.400 đồng, năm 2021 số tiền 59.357.200 đồng, năm 2022 số tiền 179.190.000 đồng, năm 2023 số tiền 50.400.000 đồng).”

Ngày 06/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 1181, trưng cầu Giám định viên tư pháp trong lĩnh vực thuế thuộc Cục Thuế tỉnh T tiến hành giám định bổ sung đối với hành vi của Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N. Tại Kết luận giám định số 1198/ GĐTP-CTTQU, ngày 25/9/2024 của Cục Thuế tỉnh T kết luận:

“Hành vi lập khống các hợp đồng lao động và chi trả tiền lương không đúng số tiền ghi trên bảng lương để sử dụng làm căn cứ xác định chi phí tiền lương, tiền công không đúng thực tế, làm tăng chi phí, giảm thu nhập chịu thuế khi kê khai, quyết toán thuế TNDN, Công ty đã tính chi phí tiền lương, tiền công phải trả nhưng thực tế không chi trả đây là các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế nhưng Công ty tính vào chi phí được trừ để tính thu nhập chịu thuế TNDN khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ T45, làm giảm số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà Công ty phải nộp cho Nhà nước. Xác định là hành vi trốn thuế, số tiền thuế trốn thực hiện giám định bổ sung cụ thể: Số tiền thuế TNDN trốn là: 107.571.250 đồng (trong đó: năm 2020 số tiền 17.136.000 đồng, năm 2021 số tiền 30.315.250 đồng, năm 2022 số tiền 60.120.000 đồng).

Xác định lại số tiền thuế TNDN trốn theo quyết định trưng cầu số 888/QĐ-CQCSĐT-KTMT ngày 18/7/2024 của Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, cụ thể: Số tiền thuế TNDN trốn là: 334.223.100 đồng (trong đó: năm 2020 số tiền 65.223.900 đồng, năm 2021 số tiền 48.409.200 đồng, năm 2022 số tiền 170.190.000 đồng, năm 2023 số tiền 50.400.000 đồng).

Tổng số thuế TNDN trốn sau 2 lần thực hiện giám định: Tổng số tiền thuế TNDN trốn là: 441.794.350 đồng (trong đó: năm 2020 số tiền 82.359.900 đồng, năm 2021 số tiền 78.724.450 đồng, năm 2022 số tiền 230.310.000 đồng, năm 2023 số tiền 50.400.000 đồng).”

Ngày 24/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 1495, trưng cầu Giám định viên tư pháp trong lĩnh vực thuế thuộc Cục Thuế tỉnh T tiến hành giám định bổ sung đối với hành vi của Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N. Tại Kết luận giám định số 01/GĐTP-CTTQU, ngày 06/11/2024 của Cục Thuế tỉnh T kết luận:

“Hành vi lập khống các hợp đồng lao động và chi trả tiền lương không đúng số tiền ghi trên bảng lương để sử dụng làm căn cứ xác định chi phí tiền lương, tiền công không đúng thực tế, làm tăng chi phí, giảm thu nhập chịu thuế khi kê khai, quyết toán thuế TNDN, Công ty đã tính chi phí tiền lương, tiền công phải trả nhưng thực tế không chi trả đây là các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế nhưng Công ty tính vào chi phí được trừ để tính thu nhập chịu thuế TNDN khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ T45, làm giảm số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà Công ty phải nộp cho Nhà nước. Xác định là hành vi trốn thuế, số tiền thuế trốn thực hiện giám định bổ sung, cụ thể: Số tiền thuế TNDN trốn là: 74.720.950 đồng (trong đó: năm 2020 số tiền 17.528.700 đồng, năm 2021 số tiền 23.532.250 đồng, năm 2022 số tiền 33.660.000 đồng).”

Ngày 19/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Giám định viên Cục Thuế tỉnh T tiến hành làm việc để làm rõ nội dung theo Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 1495 ngày 24/10/2024, kết quả như sau:

“Hành vi lập khống các hợp đồng lao động, chi trả không đúng số tiền trên bảng lương, tổng hợp số tiền trên bảng lương không đúng số tiền lương trên hồ sơ quyết toán thuế TNDN làm tăng chi phí, giảm thu nhập chịu thuế khi tính thuế TNDN, là khoản chi phí không hợp pháp theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ T45, làm giảm số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà Công ty phải nộp cho Nhà nước. Xác định là hành vi trốn thuế, số tiền thuế trốn thực hiện giám định bổ sung, cụ thể: Số tiền thuế TNDN trốn là: 3.052.350 đồng (trong đó: năm 2020 số tiền 321.300 đồng, năm 2021 số tiền 2.731.050 đồng).”

Như vậy: Tổng số tiền Công ty X2 trốn thuế sau 3 lần giám định là 519.567.650 đồng. Trong đó: Năm 2020 trốn thuế: 100.209.900 đồng; năm 2021 trốn thuế: 104.987.750 đồng; năm 2022 trốn thuế: 263.970.000 đồng và năm 2023 trốn thuế: 50.400.000 đồng.

Ngày 14/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 1042 và ngày 30/9/2024, ban hành Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 1356, trưng cầu Giám định viên Phòng K2 - Công an tỉnh T tiến hành giám định đối với các mẫu chữ ký, chữ viết tại các hợp đồng lao động, bảng thanh toán tiền lương của Công ty X2 với các mẫu chữ ký, chữ viết của các cá nhân có thông tin tương ứng do Cơ quan điều tra thu thập.

Tại Kết luận giám định số 1120/KL-KTHS ngày 25/9/2024 và Kết luận giám định số 1314/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T thể hiện: Chỉ có chữ ký của Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N là do cùng một người ký còn toàn bộ các chữ viết, chữ ký của các cá nhân là nhân viên công ty, nhân công lao động trong hợp đồng lao động, bảng thanh toán tiền lương của Công ty X2 với các mẫu chữ ký, chữ viết của các cá nhân có thông tin tương ứng do Cơ quan điều tra cung cấp không phải cùng một người ký.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSTP ngày 30 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N về tội: Trốn thuế, quy định tại điểm b, điểm d, khoản 2, Điều 200 Bộ luật Hình sự;

Kết thúc phần tranh tụng tại phiên toà, đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N về tội “Trốn thuế” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm b, d, khoản 2, khoản 4, Điều 200; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hà Ngọc T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt tiền sung ngân sách nhà nước từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Áp dụng: Điểm b, d, khoản 2, Điều 200; điểm b, s, khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Hồng N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 519.567.650 đồng mà các bị cáo trốn thuế; trong đó bị cáo Hà Ngọc T đã nộp số tiền 516.515.600 đồng, bị cáo Đoàn Thị Hồng N đã nộp số tiền 3.053.000 đồng.

Hiện số tiền này đã chuyển vào tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang theo ủy nhiệm chi số 16c1 lập ngày 21/01/2025.

- Tịch thu lưu tại hồ sơ vụ án các tài liệu sau:

  • + 01 (Một) Hợp đồng lao động Số 02 ngày 01/01/2016 của Công ty X2 ký với Hà Ngọc T, gồm 02 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) Hợp đồng lao động Số 04/HĐLĐ ngày 01/01/2019 của Công ty X2 ký với Đoàn Thị Hồng N, gồm 02 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập hợp đồng lao động năm 2020, bìa màu xanh dương, gồm 191 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “ Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2020, gồm 50 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Báo cáo tình hình tài chính tại ngày 31/12/2020”, gồm 29 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2020”, gồm 12 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Hợp đồng lao đông năm 2021”, bìa màu xanh dương, gồm 198 tờ kích thước A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2021, bìa màu xanh dương, gồm 29 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Phiếu chỉ” năm 2021, gồm 19 tờ kích thước A5 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Báo cáo tình hình tài chính tại ngày 31/12/2021”, gồm 18 tờ kích thước A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2021”, gồm 48 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Hợp đồng lao động” năm 2022, gồm 79 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2022, gồm 44 tờ kích thước A4, 10 tờ kích thước giấy A5 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Báo cáo tình hình tài chính tại ngày 31/12/2022”, gồm 16 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Tờ khai thuế năm 2022”, gồm 49 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2023, gồm 18 tờ kích thước A4, 12 tờ kích thước A5 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Báo cáo tài chính năm 2023”, gồm 13 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) sổ tay cá nhân bìa da màu vàng nâu, kích thước 10x15cm, nhãn hiệu Hải Tiến, có cúc bấm phía trước, bên trong có các trang tài liệu có chữ viết trên khổ giấy kích thước 9x14cm có dòng kẻ ngang màu đen, được đánh số thứ tự từ 01 đến 47.

- Trả lại cho ông Hà Đình T301 (một) USB chứa chữ ký số của ông Hà Đình T3, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X2.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa, nhất trí với luận tội của đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang. Các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện nhiệm vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Các bị cáo không khiếu nại, thắc mắc gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thừa nhận hành vi, cách thức thực hiện tội phạm của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản làm việc; Biên bản ghi lời khai, Kết luận giám định thuế Cục Thuế tỉnh T và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Trong năm 2020, năm 2021, năm 2022 và năm 2023, bị cáo Hà Ngọc T đã cùng với bị cáo Đoàn Thị Hồng N lập khống các hợp đồng lao động, bảng thanh toán tiền lương của người lao động để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp với tổng số tiền 519.567.650 đồng (Trong đó, số tiền trốn thuế năm 2020 là 100.209.900 đồng, năm 2021 là 104.987.750 đồng, năm 2022 là 263.970.000 đồng và năm 2023 là 50.400.000 đồng).

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật, nhận thức được việc trốn thuế của mình bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại hóa đơn, chứng từ, xâm phạm đến chế độ quản lý thuế, gây thất thu ngân sách nhà nước; ảnh hưởng xấu đến tình hình phát triển kinh tế, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trốn thuế” quy định tại điểm b, điểm d, khoản 2, Điều 200 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố các bị cáo về tội “Trốn thuế” theo điểm b, d khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục hậu quả (nộp tiền vào ngân sách nhà nước). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.

Bị cáo Hà Ngọc T được tặng giấy chứng nhận danh hiệu hội viên sản xuất kinh doanh giỏi cấp trung ương trong các năm 2018, 2019, 2022, 2023, mẹ đẻ bị cáo được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc. Bị cáo Hà Ngọc T là người giữ vai trò chính, trực tiếp chỉ đạo thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo Đoàn Thị Hồng N giữ vai trò đồng phạm thực hành tích cực.

Xét thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm của mình dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp và cũng đủ nghiêm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng khoản 4 Điều 200; khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Hà Ngọc T như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Đối với bị cáo Đoàn Thị Hồng N, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội với vai trò thực hành nhưng không có mục đích vụ lợi do đó, xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

[5] Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm:

  • - 01 (Một) Hợp đồng lao động Số 02 ngày 01/01/2016 của Công ty X2 ký với Hà Ngọc T, gồm 02 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) Hợp đồng lao động Số 04/HĐLĐ ngày 01/01/2019 của Công ty X2 ký với Đoàn Thị Hồng N, gồm 02 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập hợp đồng lao động năm 2020, bìa màu xanh dương, gồm 191 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “ Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2020, gồm 50 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Báo cáo tình hình tài chính tại ngày 31/12/2020”, gồm 29 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2020”, gồm 12 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Hợp đồng lao động năm 2021”, bìa màu xanh dương, gồm 198 tờ kích thước A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2021, bìa màu xanh dương, gồm 29 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Phiếu chỉ” năm 2021, gồm 19 tờ kích thước A5 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Báo cáo tình hình tài chính tại ngày 31/12/2021”, gồm 18 tờ kích thước A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2021”, gồm 48 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Hợp đồng lao động” năm 2022, gồm 79 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2022, gồm 44 tờ kích thước A4, 10 tờ kích thước giấy A5 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Báo cáo tình hình tài chính tại ngày 31/12/2022”, gồm 16 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Tờ khai thuế năm 2022”, gồm 49 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2023, gồm 18 tờ kích thước A4, 12 tờ kích thước A5 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) tập “Báo cáo tài chính năm 2023”, gồm 13 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • - 01 (Một) sổ tay cá nhân bìa da màu vàng nâu, kích thước 10x15cm, nhãn hiệu Hải Tiến, có cúc bấm phía trước, bên trong có các trang tài liệu có chữ viết trên khổ giấy kích thước 9x14cm có dòng kẻ ngang màu đen, được đánh số thứ tự từ 01 đến 47.

(Tài liệu này hiện đang lưu tại Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang theo hồ sơ vụ án).

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu máy Iphone 11 promax, vỏ ngoài màu vàng; số máy MWHL2KH/A; số sê-ri: FK1C40EJN710; IMEI1 353913109290871; IMEI2 353913109876992; trong điện thoại có lắp 01 SIM số thuê bao 0961.704.988 số seri 8984 0480 0882 8057 047, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong và 01 (một) chiếc máy tính nhãn hiệu ASUS Model A540L, Made in China vỏ ngoài màu xám - đen, trên mã vạch có in dòng ký tự “G9N0GR02S372382”, máy tính đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Tại Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 1724 ngày 29/11/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, quyết định: Trả lại 01 (Một) chiếc điện thoại di động kiểu máy iPhone 11 promax và 01 (Một) chiếc máy tính nhãn hiệu ASUS Model A540L cho chủ sở hữu hợp pháp là Đoàn Thị Hồng N.

- Đối với 01 (một) USB chứa chữ ký số của ông Hà Đình T3, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X2 cần trả lại cho ông T3.

[6] Những vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Đối với ông Hà Đình T3 là người đại diện pháp luật của Công ty X2 nhưng trên thực tế không trực tiếp quản lý, điều hành, tổ chức hoạt động kinh doanh của Công ty; không được trao đổi, bàn bạc và đồng thuận với các bị cáo Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N về việc trốn thuế. Ông T3 ký các hợp đồng lao động và bảng thanh toán tiền lương năm 2020, 2021, 2022 và 2023 của Công ty X2 nhưng không biết các chứng từ, tài liệu đó được lập khống để trốn thuế. Việc kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty được thực hiện qua trang thuế điện tử. Chữ ký số của Công ty X2 được sử dụng để kê khai thuế T giao cho N quản lý và ông T3 không biết có chữ ký số đó, việc thực hiện kê khai, báo cáo thuế theo sự chỉ đạo của T, không báo cáo ông T3, ông T3 không biết việc kê khai thuế của Công ty, không được hưởng lợi ích từ hành vi trốn thuế nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với ông Ngô Văn T5, ông Hoàng Trung T6 liên hệ thuê nhân công giúp bị cáo Hà Ngọc T và cung cấp chứng minh nhân dân, căn cước công dân của các nhân công đó cho bị cáo Hà Ngọc T. Tuy nhiên, ông T5, ông T6 không biết mục đích bị cáo T thu thập chứng minh nhân dân, căn cước công dân của các nhân công để lập hồ sơ khống nhằm trốn thuế; ông T5 và ông T6 cũng không được hưởng lợi ích nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với việc Công ty X2 thuê các cá nhân làm việc được chi trả lương, quá trình điều tra xác định những người trên có làm việc thực tế cho Công ty X2 nhưng thời gian làm việc không thường xuyên, liên tục; không làm việc và không hưởng lương đủ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, cũng không ký hợp đồng lao động với Công ty X2 nên không thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Do đó, việc Công ty X2 không đóng bảo hiểm xã hội cho những người trên không vi phạm nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với việc các bị cáo Hà Ngọc T, Đoàn Thị Hồng N thu thập, sử dụng thông tin cá nhân của những người không làm việc thực tế cho Công ty X2 để lập khống hồ sơ kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp thì đối chiếu với các quy định của pháp luật không có chế tài xử lý nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N phạm tội “Trốn thuế".

2. Về hình phạt chính:

2.1. Căn cứ điểm b, điểm d, khoản 2, Điều 200, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc T 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/01/2025).

2.2. Căn cứ điểm b, điểm d, khoản 2, Điều 200, điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị Hồng N 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/01/2025).

Giao các bị cáo Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự

3. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 4 Điều 200; khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Hà Ngọc T số tiền 30.000.000 đồng.

4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 519.567.650 đồng mà các bị cáo trốn thuế; trong đó bị cáo Hà Ngọc T đã nộp số tiền 516.515.600 đồng, bị cáo Đoàn Thị Hồng N đã nộp số tiền 3.053.000 đồng.

Hiện số tiền này đã chuyển vào tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang theo ủy nhiệm chi số 16c1 lập ngày 21/01/2025.

- Tịch thu lưu tại hồ sơ vụ án các tài liệu sau:

  • + 01 (Một) Hợp đồng lao động Số 02 ngày 01/01/2016 của Công ty X2 ký với Hà Ngọc T, gồm 02 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) Hợp đồng lao động Số 04/HĐLĐ ngày 01/01/2019 của Công ty X2 ký với Đoàn Thị Hồng N, gồm 02 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập hợp đồng lao động năm 2020, bìa màu xanh dương, gồm 191 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “ Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2020, gồm 50 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Báo cáo tình hình tài chính tại ngày 31/12/2020”, gồm 29 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2020”, gồm 12 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Hợp đồng lao động năm 2021”, bìa màu xanh dương, gồm 198 tờ kích thước A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2021, bìa màu xanh dương, gồm 29 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Phiếu chỉ” năm 2021, gồm 19 tờ kích thước A5 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Báo cáo tình hình tài chính tại ngày 31/12/2021”, gồm 18 tờ kích thước A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2021”, gồm 48 tờ, kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Hợp đồng lao động” năm 2022, gồm 79 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2022, gồm 44 tờ kích thước A4, 10 tờ kích thước giấy A5 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Báo cáo tình hình tài chính tại ngày 31/12/2022”, gồm 16 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Tờ khai thuế năm 2022”, gồm 49 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Sổ chi tiết tài khoản 334: Phải trả người lao động” năm 2023, gồm 18 tờ kích thước A4, 12 tờ kích thước A5 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) tập “Báo cáo tài chính năm 2023”, gồm 13 tờ kích thước giấy A4 (Bản gốc).
  • + 01 (Một) sổ tay cá nhân bìa da màu vàng nâu, kích thước 10x15cm, nhãn hiệu Hải Tiến, có cúc bấm phía trước, bên trong có các trang tài liệu có chữ viết trên khổ giấy kích thước 9x14cm có dòng kẻ ngang màu đen, được đánh số thứ tự từ 01 đến 47.

(Tài liệu này hiện đang lưu tại Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang theo hồ sơ vụ án).

Trả lại cho ông Hà Đình T301 (một) USB chứa chữ ký số của ông Hà Đình T3, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X2.

(Tình trạng USB thể hiện như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 07/01/2025).

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí tòa án kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Buộc các bị cáo Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Hà Ngọc T và Đoàn Thị Hồng N có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; NLQ;
  • - VKSND thành phố TQuang;
  • - VKSND tỉnh TQuang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TPTQuang;
  • - Cơ quan THAHS TPTQuang;
  • - UBND P. Nông Tiến, TPTQuang;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (trốn thuế)

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn thuế)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong năm 2020, năm 2021, năm 2022 và năm 2023, bị cáo Hà Ngọc Tân đã cùng với bị cáo Đoàn Thị Hồng Nga lập khống các hợp đồng lao động, bảng thanh toán tiền lương của người lao động để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp với tổng số tiền 519.567.650 đồng (Trong đó, số tiền trốn thuế năm 2020 là 100.209.900 đồng, năm 2021 là 104.987.750 đồng, năm 2022 là 263.970.000 đồng và năm 2023 là 50.400.000 đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger