Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ DẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 21-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Trưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tuyển;

Ông Nguyễn Văn Ninh.

- Thư ký phiên toà: ông Huỳnh Thanh Hải là Thẩm tra viênToà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh P, sinh năm 2004, tại: thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi tạm trú: khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Hoàng D; vợ, con: chưa có; tiền sự, tiền án: không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/11/2024, tạm giam từ ngày 30/11/2024 đến nay; bị cáo có mặt.

Bị hại: ông Trần Văn S sinh ngày 01/01/1954; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Phạm Anh T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Số D đường C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 20/11/2024, Nguyễn Minh P điều khiển xe mô tô biển số 70U1-0866 đến công viên T thuộc khu phố R, thị trấn G, huyện G tìm xe mô tô của người dân đang đi tập thể dục để sơ hở chiếm đoạt. Phúc quan sát phát hiện xe mô tô biển số 70E1-661.67 của ông Trần Văn S đang dựng trong công viên, không có người trông giữ, chìa khóa treo trên xe nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. P đem xe mô tô biển số 70U1-0866 cất giấu, sau đó đi bộ đến lấy xe mô tô biển số 70E1-661.67 của ông S chạy đi tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, P dừng xe kiểm tra phát hiện trong cốp xe có 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu MIDO màu đen nên cất giấu, sau đó P chạy xe chiếm đoạt được đến tiệm sửa xe của chị Khuất Thị N ở khu phố A, phường A, thị xã T, P mượn chìa khóa tháo giỏ đựng đồ ở phía trước và 02 gương chiếu hậu bỏ lại trước tiệm chị N, tháo biển số xe bỏ vào cốp xe rồi chạy xe đến tiệm sửa xe "Quang Huy" của anh Nguyễn Văn H gần đó thuê dán đề can để thay đổi màu sơn của xe nhằm tránh bị phát hiện. Trong lúc chờ anh H dán đề can, P lấy đồng hồ chiếm đoạt của ông S đón xe buýt đến cửa hàng của anh Phạm Anh T1, địa chỉ số D đường C, phường H, thành phố T, thành phố H bán với số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, P quay lại tiệm sửa xe anh H trả tiền sửa xe với số tiền 1.000.000 đồng và lén lúc lấy biển số xe 70B2 - 026.74 ở trên bàn uống nước của anh H bỏ vào cốp xe. Trên đường về nhà trọ, P thay biển số 70E1 - 661.67 bằng biển số 70B2 - 026.74, rồi chạy xe về phòng số 02 nhà trợ Ngọc V thuộc khu phố R, thị trấn G, huyện G cất giấu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, P đi bộ đến nơi cất giấu xe mô tô biên số 70U1 - 0866 thì bị Công an huyện G phát hiện bắt giữ.

Kết luận định giá tài sản số 81 ngày 29/11/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện G kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future Fl, màu sơn xanh đen, biển số 70E1 - 661.67, đã qua sử dụng có giá trị 25.800.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nam nhãn hiệu MIDO đã qua sử dụng có giá trị 2.200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSGD ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh P về tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bị cáo không có tài sản nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận như sau: Khoảng 14 giờ ngày 20/11/2024, tại khu vực thị trấn G, huyện G, Nguyễn Minh P lén lúc chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 70E1-661.67 trị giá 25.800.000 đồng và 01 đồng hồ đeo tay có giá trị 2.200.000 đồng của ông Trần Văn S thì bị phát hiện. Do đó hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Xuất phát từ mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức lao động, bị cáo đã bất chấp pháp luật làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để răng đe phòng ngừa tội phạm.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến vai trò, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như về tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội đối với bị hại trên 70 tuổi là tình tiết tăng nặng theo điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự ; tại phiên tòa bị cáo thành thật khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả bị hại xong, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: ông Trần Văn S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên ghi nhận.

Ông Phạm Anh T1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.500.000 đồng đã mua đồng hồ do bị cáo bán. Tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường cần buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho ông T1 số tiền 1.500.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật mang dấu vết tội phạm không có giá trị cần tịch thu tiêu huỷ gồm: 01(một) nón bảo hiểm màu xanh - đen trên nón có chữ Honda; 01(một) áo khoác màu xám; 01 (một) quần jean lửng màu xanh trắng gắn nhãn hiệu H&M; 01 (một) đôi dép loại dép đúc màu đen trắng.

Đối với 01 (một) điện thoại S1 A73 5G, số sêri R5CT61RPJTP bị cáo dùng vào việc liên lạc để tiêu thụ tài sản phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, màu son đen, biển số 70U1 - 0866; số khung 4DJ080135197; số máy E455- 1351397, dung tích xi lanh 110 thu của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo có nghĩa vụ bồi thường nên cần giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: bị cáo bị kết án và có nghĩa vụ bồi thường nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thểm theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 11 năm 2024.
  2. Về xử lý vật chứng:

    Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01(một) nón bảo hiểm màu xanh - đen trên nón có chữ Honda; 01(một) áo khoác màu xám; 01 (một) quần jean lửng màu xanh trắng gắn nhãn hiệu H&M; 01 (một) đôi dép loại dép đúc màu đen trắng.

    Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại S1 A73 5G, số sêri R5CT61RPJTP.

    Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với 01 (một) xe mô tô nhăn hiệu Suzuki, màu sơn đen, biển số 70U1 - 0866; số khung 4DJ080135197; số máy E455- 1351397, dung tích xi lanh 110.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận ông Trần Văn S đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô biển số 70E1-661.67 trị giá 25.800.000 đồng và 01 đồng hồ đeo tay và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

    Buộc bị cáo Nguyễn Minh P có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Anh T1 số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Minh P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông T1 vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV. TATN;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKS H. Gò Dầu;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an huyện Gò Dầu;
  • - Phòng lý lịch Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS H. Gò Dầu;
  • - Nhà tạm giữ CA H. Gò Dầu;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Trưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger