TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thị Hoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương T - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Đình P
- Sinh ngày 28 tháng 6 năm 1971; tại huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký HKTT: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã Q, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình K (đã chết) và con bà Lê Thị G (đã chết); bị cáo có vợ là Ngô Thị C và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 04/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Phạm Anh T1, sinh năm 1994; Nơi đăng ký HKTT: phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã Q, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- + Anh Lê Văn T2, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hải N. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Đình P, sinh năm 1971, hiện đang tạm trú tại thôn T, xã Q, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, Phạm Anh T1 sinh, năm 1994, hiện đang tạm trú tại thôn T, xã Q, thành phố T và anh Lê Văn T2, sinh năm 1977, trú tại thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình đều là công nhân công ty G1. Quá trình làm việc anh T1 và anh T2 nói với P cần tiền giải quyết công việc cá nhân nên P nảy sinh ý định cho anh T1 và anh T2 vay khoản tiền mà P tiết kiệm được với lãi suất cao nhằm thu lời bất chính. P nói với anh T1 và anh T2 là P có một khoản tiết kiệm, nếu cần vay thì đến phòng trọ P cho vay, anh T1 và anh T2 đồng ý. Từ 15/4/2021 đến ngày 21/10/2024, P sử dụng tổng số tiền 28.000.000 đồng cho anh T1 và anh T2 vay với lãi suất từ 3.000 đồng đến 4.000đồng/1.000.000đồng/ngày tương đương 109,5%/01 năm đến 146%/01 năm gấp 5,475 lần đến 7,3 lần mức lãi suất mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, nhằm thu lợi bất chính tổng số tiền là 60.943.014 đồng cụ thể như sau:
Quá trình Bùi Đình P cho anh Phạm Anh T1 vay:
Ngày 15/4/2021, anh Phạm Anh T1 đến phòng trọ của Bùi Đình P hỏi vay 6.000.000 đồng. P đồng ý cho anh T1 vay tiền và đưa ra mức lãi suất là 4.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày và trả tiền lãi theo tháng, 01 tháng tính bằng 30 ngày không kể tháng thừa, tháng thiếu, tức 01 tháng Phương thu của anh T1 720.000 đồng tiền lãi; ngày trả lãi từ 13 đến 15 hàng tháng (ngày anh T1 nhận lương). Anh T1 đồng ý với mức lãi suất P đưa ra. Sau đó, P đưa giấy và bút cho anh T1 viết giấy vay tiền với nội dung ngày 15/4/2021 anh T1 vay của Bùi Đình P số tiền 6.000.000 đồng và cam kết trả đủ lãi hàng tháng đến khi trả đủ tiền gốc. Viết xong, anh T1 đưa cho P cất giữ tại ngăn tủ sách rồi giao 6.000.000 đồng tiền mặt cho anh T1. Trong quá trình thực hiện giao dịch cứ ngày 13 đến 15 hàng tháng anh T1 đều trả cho P 720.000 đồng tiền lãi. Đến 15/2/2022, anh T1 đã trả cho P 10 tháng tiền lãi với tổng số tiền 7.200.000 đồng.
Ngày 15/02/2022 anh T1 đến phòng trọ hỏi vay P thêm số tiền 4.000.000 đồng, cộng dồn thành khoản vay 10.000.000 đồng (tức khoản vay 6.000.000 đồng kết thúc ngày 15/02/2022). P đồng ý cho anh T1 vay thêm tiền và đưa ra mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01tháng, tức 01 tháng Phương thu của anh T1 900.000 đồng tiền lãi. Sau đó, P giao cho anh T1 4.000.000 đồng tiền mặt và đưa giấy, bút cho anh T1 viết giấy vay tiền. Anh T1 viết giấy vay số tiền 10.000.000 đồng đưa cho P cất giữ và nhận lại giấy vay số tiền 6.000.000 đồng xé vứt đi. Trong quá trình thực hiện giao dịch từ 15/3/2022 đến 15/11/2022, anh T1 đã trả cho P bằng tiền mặt 09 tháng tiền lãi với tổng số tiền 8.100.000 đồng.
Ngày 15/11/2022 tại phòng trọ, P tiếp tục cho anh T1 vay thêm 1.000.000 đồng tiền mặt, cộng dồn thành khoản vay 11.000.000 đồng (tức khoản vay 10.000.000 đồng kết thúc ngày 15/11/2022) với mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01tháng, tức 01 tháng Phương thu của anh T1 990.000 đồng tiền lãi, làm tròn thành 1.000.000 đồng. Anh T1 viết giấy vay số tiền 11.000.000 đồng đưa cho P cất giữ và nhận lại giấy vay số tiền 10.000.000 đồng xé vứt đi. Từ 15/12/2022 đến 15/03/2024, anh T1 trả bằng tiền mặt cho P 16 tháng tiền lãi với tổng số tiền 16.000.000 đồng.
Đến ngày 15/03/2024, anh T1 đến phòng trọ trả lãi và hỏi vay thêm tiền; P đồng ý cho anh T1 vay thêm 2.000.000 đồng tiền mặt, cộng dồn thành khoản vay 13.000.000 đồng (tức khoản vay 11.000.000 đồng kết thúc ngày 15/3/2024) với mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01tháng, tức 01 tháng Phương thu của anh T1 1.170.000 đồng tiền lãi, làm tròn thành 1.200.000 đồng. P đưa 01 tờ giấy thếp dòng kẻ ngang và 01 bút bi mực xanh cho anh T1 viết giấy vay tiền với nội dung ngày 15/03/2024 anh T1 vay của Bùi Đình P số tiền 13.000.000 đồng và cam kết trả đủ lãi hàng tháng đến khi trả đủ tiền gốc rồi đưa cho P cất giữ tại ngăn tủ sách và nhận lại giấy vay tiền 11.000.000 đồng xé vứt đi. Từ ngày 15/3/2024 đến ngày 15/10/2024, anh T1 đã trả cho P 07 tháng tiền lãi với tổng số tiền 8.400.000 đồng trong đó có 06 tháng anh T1 trả tiền mặt, 01 tháng anh T1 nhờ bạn chuyển khoản. Đến ngày 21/10/2024 khi bị Cơ quan điều tra phát hiện hành vi phạm tội, P chưa thu tiền lãi của anh T1 từ ngày 15/10/2024 đến ngày 21/10/2024 và anh T1 chưa trả tiền gốc 13.000.000 đồng cho P.
Để thuận tiện theo dõi, sau mỗi lần thu tiền lãi hàng tháng của anh T1, P đều lấy tờ giấy thếp dòng kẻ ngang và bút bi mực màu xanh ghi thống kê theo tháng trả lãi vào tờ giấy rồi cất trong ngăn tủ sách.
Như vậy, từ ngày 15/4/2021 đến ngày 21/10/2024, P sử dụng số tiền 13.000.000 đồng cho anh Phạm Anh T1 vay nhằm thu tổng số tiền lãi là 39.940.000 đồng, trong đó tiền lãi P đã thực thu là 39.700.000 đồng (do P chưa thu tiền lãi từ ngày 15/10/2024 đến ngày 21/10/2024). Tổng số tiền lãi 20% được phép thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự là 6.998.356 đồng, trong đó tiền lãi 20% P đã thực thu là 6.955.616 đồng. Tổng tiền lãi P thu lợi bất chính là 32.941.644 đồng, trong đó tiền thu lợi bất chính P đã thu được là 32.744.384 đồng.
Quá trình Bùi Đình P cho anh Lê Văn T2 vay:
Ngày 15/4/2022, anh Lê Văn T2 đến phòng trọ của Bùi Đình P hỏi vay 10.000.000 đồng. P đồng ý cho anh T2 vay tiền và đưa ra mức lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày và trả tiền lãi theo tháng, 01 tháng tính bằng 30 ngày không kể tháng thừa, tháng thiếu, tức 01 tháng Phương thu của anh T2 900.000 đồng tiền lãi; ngày trả lãi từ 13 đến 15 hàng tháng. Anh T2 đồng ý với mức lãi suất P đưa ra và thỏa thuận thời hạn vay đến khi trả xong tiền gốc. Do quen thân nên P không yêu cầu anh T2 viết giấy vay tiền mà giao luôn 10.000.000 đồng tiền mặt cho anh T2. Từ ngày 15/4/2022 đến ngày 15/5/2023, anh T2 đã trả bằng tiền mặt cho P 13 tháng tiền lãi với tổng số tiền 11.700.000 đồng.
Đến ngày 15/5/2023 tại phòng trọ, P cho anh T2 vay thêm 3.000.000 đồng tiền mặt, cộng dồn thành khoản vay 13.000.000 đồng (tức khoản vay 10.000.000 đồng kết thúc ngày 15/5/2023) với mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức 01 tháng Phương thu của anh T2 1.170.000 đồng tiền lãi. Từ ngày 15/5/2023 đến ngày 15/8/2023, anh T2 đã trả bằng tiền mặt cho P 03 tháng tiền lãi với tổng số tiền 3.510.000 đồng.
Đến ngày 15/8/2023 khi đến phòng trọ trả lãi cho P, anh T2 hỏi vay thêm tiền của P. P đồng ý cho anh T2 vay thêm 2.000.000 đồng, cộng dồn thành khoản vay 15.000.000 đồng (tức khoản vay 13.000.000 đồng kết thúc ngày 15/8/2023) với mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức 01 tháng Phương thu của anh T2 1.350.000 đồng tiền lãi; thời hạn vay đến khi trả xong tiền gốc. Từ ngày 15/8/2023 đến ngày 15/10/2024, anh T2 đã trả bằng tiền mặt cho P 14 tháng tiền lãi với tổng số tiền 18.900.000 đồng. Đến ngày 21/10/2024 khi bị Cơ quan điều tra phát hiện hành vi phạm tội, P chưa thu tiền lãi của anh T2 từ ngày 15/10/2024 đến ngày 21/10/2024 và anh T2 chưa trả tiền gốc 15.000.000 đồng cho P.
Để thuận tiện theo dõi, sau mỗi lần thu tiền lãi hàng tháng của anh T2, P đều lấy tờ giấy dòng kẻ ngang đã thống kê tiền lãi của anh T1 và bút bi mực màu xanh ghi chung vào rồi cất trong ngăn tủ sách.
Như vậy, từ ngày 15/4/2022 đến ngày 21/10/2024, P sử dụng số tiền 15.000.000 đồng cho anh Lê Văn T2 vay nhằm thu tổng số tiền lãi là 34.380.000 đồng, trong đó tiền lãi P đã thực thu là 34.110.000 đồng (do P chưa thu tiền lãi từ ngày 15/10/2024 đến 21/10/2024). Tổng số tiền lãi 20% được phép thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự là 6.378.630 đồng, trong đó tiền lãi 20% P đã thực thu là 6.329.315 đồng. Tổng tiền lãi P nhằm thu lợi bất chính là 28.001.370 đồng, trong đó tiền thu lợi bất chính P đã thực thu là 27.780.685 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 07/CT-VKSTPTĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Bùi Đình P ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1, khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Đình P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Đình P từ 80.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Đình P.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc mà anh Phạm Anh T1 đã nộp là 13.000.000 đồng.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc mà anh Lê Văn T2 đã nộp là 15.000.000 đồng.
- + Buộc bị cáo Bùi Đình P phải nộp lại số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 13.284.931 đồng để sung vào ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền 2.550.000 đồng đã thu giữ. Bùi Đình P còn phải nộp số tiền 10.734.931 đồng.
- + Trả lại cho anh Phạm Anh T1 số tiền 42.740 đồng.
- + Trả lại cho anh Lê Văn Thiểu S tiền 49.315 đồng.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Đình P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã nêu. Bị cáo nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Bùi Đình P nói lời sau cùng mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Bùi Đình P tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Từ ngày 15/4/2021 đến ngày 21/10/2024, tại phòng trọ ở thôn T, xã Q, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, Bùi Đình P sử dụng số tiền 13.000.000 đồng cho anh Phạm Anh T1 vay và 15.000.000 đồng cho anh Lê Văn T2 vay với lãi suất từ 109,5% đến 146 %/01 năm gấp 5,475 đến 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận anh T1, anh T2 phải trả cho Bùi Đình P là 74.320.000 đồng, trong đó số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự anh T1, anh T2 phải trả cho P là 13.376.986 đồng. Như vậy, số tiền Bùi Đình P thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng là 60.943.014 đồng.
Tại Điều 201 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
- ...
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực tài chính, một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Bùi Đình P là người trưởng thành nhận thức rõ các quy định của pháp luật trong giao dịch dân sự nhưng vẫn cố ý cho anh Phạm Anh T1 và anh Lê Văn T2 vay tiền với mức lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự thu lợi bất chính 60.943.014 đồng. Đối chiếu với quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đối với bị cáo theo bản cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện trả lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính cho anh T1 và anh T2; bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo Bùi Đình P có nhân thân tốt.
[4] Về hình phạt:
Bị cáo Bùi Đình P mặc dù biết rõ các quy định của pháp luật về việc cho vay trong quan hệ dân sự nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý vi phạm làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi của cá nhân anh Phạm Anh T1, anh Lê Văn T2. Do đó, phải có mức hình phạt thật tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xem xét, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đã nhận thức được sai lầm của bản thân, thực sự ăn năn, hối cải, bị cáo phạm tội không có tính chất chuyên nghiệp, không dưới hình thức băng, ổ nhóm nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục ý thức tuân theo pháp luật của bị cáo, góp phần phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, đồng thời phù hợp với hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
[5] Về hình phạt bổ sung: do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 13.000.000 đồng bị cáo cho anh T1 vay và số tiền 15.000.000 đồng bị cáo cho anh T2 vay, anh T1, anh T2 đã giao nộp trong quá trình điều tra cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số tiền 13.284.931 đồng là tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của anh T1, anh T2 cần buộc bị cáo phải nộp lại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, được đối trừ vào số tiền 2.550.000 đồng đã thu giữ của bị cáo, bị cáo còn phải nộp số tiền là 10.734.931 đồng.
Đối với số tiền 60.525.069 đồng là số tiền thu lợi bất chính mà Bùi Đình P thực tế đã thu của anh T1, anh T2, bị cáo đã trả lại cho anh T1, anh T2 vào ngày 27/11/2024, anh T1, anh T2 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Đối với số tiền 42.740 đồng do anh T1 giao nộp và số tiền 49.315 đồng do anh T2 giao nộp không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho anh T1, anh T2 theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đình P phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt:
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc mà anh Phạm Anh T1 đã nộp là 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng).
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc mà anh Lê Văn T2 đã nộp là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
- - Buộc bị cáo Bùi Đình P phải nộp lại số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 13.284.931 đồng (mười ba triệu hai trăm tám mươi tư nghìn chín trăm ba mươi mốt đồng) để sung vào ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) đã thu giữ. Bùi Đình P còn phải nộp số tiền 10.734.931 đồng (mười triệu bảy trăm ba mươi tư nghìn chín trăm ba mươi mốt đồng).
- - Trả lại cho anh Phạm Anh T1 số tiền 42.740 đồng (bốn mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi đồng).
- - Trả lại cho anh Lê Văn T2 số tiền 49.315 đồng (bốn mươi chín nghìn ba trăm mười lăm đồng).
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Xử phạt bị cáo Bùi Đình P 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).
Chi tiết vật chứng theo ủy nhiệm chi ngày 15/01/2025 giữa Công an thành phố T và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp.
Buộc bị Bùi Đình P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Minh |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Đình P phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
