Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KRÔNG PẮC

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 24/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC - TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đức
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và ông Lý Viết Chấn.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhị - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 24/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 23/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 14/02/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Viết H (tên gọi khác: không); giới tính: N; sinh năm: 1998, tại tỉnh : Thừa Thiên Huế;

Nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế;

Nơi ở: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần Viết P (đã chết), con bà Trần Thị X, sinh năm 1968, cư trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Gia đình bị cáo có 04 anh, em, bị cáo là con thứ 03; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án: 01 (Ngày 05/10/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Bản án số 323/2023/HSST. Ngày 15/5/2024, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích);

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện K đến nay - Có mặt.

  • - Bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986
  • Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
  1. Bà Hồ Thị Tường V, sinh năm 1960 (Địa chỉ: Thôn D, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk);
  2. Ông Đặng Hữu L, sinh năm 1985 (Địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk);
  3. Bà Trần Thị V1, sinh năm 1997 (Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk);
  4. Ông Hà Văn H2, sinh năm 1994 (Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk);
  5. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1990 (Địa chỉ liên lạc: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; HKTT: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế).

(Bà H1, bà V, ông L, bà V1 có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông D, ông H2 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 8/2024, Trần Viết H đến thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk làm phụ hồ thuê cho anh Trần Văn D1, sinh năm 1990. Vì cần tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định tìm nhà người dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Trưa ngày 20/10/2024, H điều khiển xe mô tô biển số 47M1-718.58 (mượn của anh D1) theo tỉnh lộ 9 hướng từ xã H đi thị trấn P; Khi đến chợ nhỏ xã H, huyện K, H đi vào một đường bê tông thuộc thôn B, xã H thì phát hiện nhà bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986 không có cổng, cửa nhà khoá và không có người ở nhà nên H để xe mô tô trước nhà, rồi đi vòng ra phía sau nhà và trèo rào vào. Hoạch lấy 01 con dao ở sau nhà cạy cửa, mở chốt rồi đi vào trong nhà. Hoạch vào phòng ngủ lục tìm tài sản trong tủ gỗ để quần áo thì phát hiện một túi xách màu đen bên trong có 01 dây chuyền vàng có mặt dây chuyền bằng đá bọc vàng xung quanh, 02 chiếc nhẫn vàng, 01 vòng đeo tay vàng dạng móc xích. Hoạch lấy toàn bộ số vàng cất giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô đến tiệm V3, ở chợ xã E, huyện K bán 01 sợi dây chuyền vàng và 01 vòng đeo tay dạng móc xích được 14.070.000 đồng. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe đến Km 42, quốc lộ B, vào tiệm V4 bán 01 mặt dây chuyền bọc vàng xung quanh và 02 chiếc nhẫn vàng được 5.040.000 đồng. Sau khi bán toàn bộ tài sản trộm cắp được, H điều khiển xe về lại công trình mình đang làm việc. Ngày 21/10/2024, H đi xe khách về nhà ở huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế chơi và sử dụng hết số tiền từ việc bán vàng trộm cắp. Ngày 25/10/2024, H đi xe khách đi từ quê vào xã H, huyện K. Đến ngày 26/10/2024, Cơ quan điều tra triệu tập làm việc thì H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ được: 01 xe mô tô biển số 47M1-718.58. Ngày 10/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả xe mô tô trên cho anh D1 là chủ sở hữu;

Vật chứng không thu giữ được: 01 dây chuyền (dây công) kim loại màu vàng, kiểu dạng móc xích; 01 lắc đeo tay (Dây xích) kim loại màu vàng, kiểu dạng móc xích; 01 mặt dây chuyên bằng đá hình ô van, có hình phật quan âm bồ tát; 01 nhẫn hột kim loại màu vàng, kiểu dạng tròn có đính đá; 01 nhẫn nữ kim loại màu vàng, kiểu dạng tròn trơn.

Bản kết luận định giá tài sản số 61 ngày 31/10/2024 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K, kết luận:

  • - 01 dây chuyền (dây công) kim loại màu vàng, kiểu dạng móc xích; loại/ký hiệu vàng: TD61 (vàng S); cân nặng 635 (sáu chỉ, ba phân, năm ly) có giá trị tại thời điểm định giá tháng 10/2024 là 30.797.000 đồng.
  • - 01 lắc đeo tay (Dây xích) kim loại màu vàng, kiểu dạng móc xích; loại/ký hiệu vàng: TD61 (vàng S); cân nặng 215 (hai chỉ, một phân, năm ly) có giá trị tại thời điểm định giá tháng 10/2024 là 10.427.000 đồng.
  • - 01 mặt dây chuyên bằng đá hình ô van, có hình phật quan âm bồ tát, chiều dài 02cm (H), chiều ngang 1,5cm (một phẩy năm Centimét) có giá trị tại thời điểm định giá tháng 10/2024 là 1.794.000 đồng.
  • - 01 nhẫn hột kim loại màu vàng, kiểu dạng tròn có đính đá; loại/ký hiệu vàng: SG (vàng S); cân nặng 1424 (một chỉ, bốn phân, hai ly, bốn D2) có giá trị tại thời điểm định giá tháng 10/2024 là 6.906.000 đồng.
  • - 01 nhẫn nữ kim loại màu vàng, kiểu dạng tròn trơn; loại/ký hiệu vàng: SG (vàng S); cân nặng 7,1 (bảy phân, một ly) có giá trị tại thời điểm định giá tháng 10/2024 là 3.443.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 53.367.000 đồng.

Về phần dân sự: Bà Trần Thị V1 đã thay bị cáo đã bồi thường cho bị hại - Bà H1 25.000.000 đồng; Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; Đồng thời bà V1 cũng tự giải quyết, chưa yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên.

Tại Cáo trạng số: 04/CT-VKS-HS ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk truy tố Trần Viết H, về tội: Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Viết H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đề cập.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Viết H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Viết H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả 01 xe mô tô biển số 47M1-718.58 cho anh D1 là chủ sở hữu;

Đề nghị chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại - bà H1 25.000.000 đồng; Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Bị cáo H không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Trần Viết H, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận: Trưa ngày 20/10/2024, Trần Viết H đến nhà bà Nguyễn Thị H1 ở thôn B, xã H, huyện K, lén lút phá cửa vào nhà lấy trộm 01 dây chuyền vàng có mặt dây chuyền bằng đá bọc vàng xung quanh, 02 chiếc nhẫn vàng, 01 vòng đeo tay vàng dạng móc xích mang đi bán được 19.110.000 đồng rồi dùng hết số tiền này. Tổng trị giá số vàng Hoạch trộm cắp là 53.367.000 đồng. Ngày 26/10/2024, tại Cơ quan điều tra H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản hiện trường và lời khai của bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Với hành vi vi lén lút phá khóa cửa vào nhà bà H1 lấy trộm dây chuyền, nhẫn, vòng đeo tay vàng (tổng trị giá là 53.367.000 đồng), Trần Viết H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người no trộm cắp tì sản của người khíc trị gĩ từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong ếc trường hợp sau đy, thì bị phạt cải tạo khơng giam giữ đến 03 năm hoặc phạt t từ 06 thng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong ốc trường hợp sau đy, thì bị phạt t từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tì sản trị gĩ từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;..."

[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm và làm mất ổn định trị an xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, không ai được chiếm đoạt. Song do ý thức coi thường pháp luật, tham lam tư lợi, bản tính lười lao động, mặc dù đang mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích (về tội tàng trữ trái phép chất ma túy) nhưng bị cáo H tiếp tục vi phạm pháp luật và đã lén lút trộm cắp tài sản của bà H1. Do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên cần thiết áp dụng mức hình phạt nghiêm minh tương ứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết “Tái phạm” theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động bồi thường, khắc phục hậu quả nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự trong khi lượng hình để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[5] Về các biện pháp tư pháp:

  • + Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả 01 xe mô tô biển số 47M1-718.58 cho anh D1 là chủ sở hữu, là phù hợp nên cần chấp nhận;
  • + Việc bà V1 đã thay bị cáo giao tiền bồi thường cho bị hại - Bà H1 25.000.000 đồng và bà H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, là hoàn toàn tự nguyện nên cần chấp nhận; Đồng thời bà V1 cũng không có yêu cầu gì về số tiền này nên không đề cập giải quyết.

[6] Đối với các hành vi và đối tượng khác liên quan trong vụ án:

Đối với ông Đặng Hữu L, sinh năm 1985 (Tiệm vàng Ngọc Trân Mai) và bà Hồ Thị Tường V, sinh năm 1960 (Tiệm vàng Ngọc Sơn V2), là người đã mua vàng mà bị cáo Trần Viết H bán trong chiều 20/10/2024; Quá trình điều tra xác định ông L, bà V2 mua vàng mà không biết đó là tài sản mà bị cáo H phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với ông L, bà V2;

Đối với anh Nguyễn Văn D là chủ sở hữu xe mô tô biển số 47M1-718.58 mà bị cáo Trần Viết H sử dụng để đi trộm cắp tài sản; Quá trình điều tra xác định vào ngày 20/10/2024, anh D cho H mượn xe để đi mua đồ, anh D không biết việc H sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh D.

Đối với một phần tài sản bị Trần Viết H làm hư hỏng khi vào trộm cắp tài sản và phần giá trị tài sản theo định giá; Quá trình điều tra bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường; Do đó, không đề cập xử lý.

[7] Về án phí:

Bị cáo Trần Viết H chịu án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Viết H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Viết H: 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 26/10/2024.

* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng các điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả 01 xe mô tô biển số 47M1-718.58 cho anh D là chủ sở hữu,
  • - Chấp nhận việc bà Trần Thị V1 đã thay bị cáo đã bồi thường cho bị hại - Bà Nguyễn Thị H1 số tiền 25.000.000 đồng; Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Áp dụng khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Viết H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND H. Krông Pắc;
  • - Công an H. Krông Pắc;
  • - Chi cục THADS H. Krông Pắc;
  • - Bị cáo; Bị hại; Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký, đóng dấu)

VŨ VĂN ĐỨC

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC - TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC - TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trưa ngày 20/10/2024, Trần Viết H đến nhà bà Nguyễn Thị H ở thôn 2, xã A, huyện K, lén lút phá cửa vào nhà lấy trộm 01 dây chuyền vàng có mặt dây chuyền bằng đá bọc vàng xung quanh, 02 chiếc nhẫn vàng, 01 vòng đeo tay vàng dạng móc xích mang đi bán được 19.110.000 đồng rồi dùng hết số tiền này. Tổng trị giá số vàng H trộm cắp là 53.367.000 đồng. Ngày 26/10/2024, tại Cơ quan điều tra H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger