|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 13-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Út.
- Ông Trương Thành Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Dương Minh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An đối với bị cáo:
Họ tên: Lê Hữu V, sinh ngày: 29/8/1998;
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện tại: Ấp G, xã N, huyện B, tỉnh Long An (Bị cáo có mặt).
Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N, sinh năm: 1976 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1977; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Ngày 18/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong ngày 11/01/2024.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, chấp hành xong vào năm 2020.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/9/2024 cho đến nay.
2.2. Bị hại: Nguyễn Thành T1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An (Có mặt).
2.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Phạm Văn B, sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ, ngày 04/7/2024, Lê Hữu V đang ở nhà tại xã N, huyện B, tỉnh Long An thì nhờ bạn tên K (không rõ họ tên, địa chỉ) chở đến nhà của bạn gái là Nguyễn Thị Hồng Đ tại ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Khi đến nơi, thấy nhà Đ đóng cửa nên V lấy chìa khóa nhà để sẵn trên tấm đan cửa sổ nhà ông Nguyễn Thành T1 (liền kề với nhà của Đ) để mở cửa vào nhà Đ nằm ngủ. Đến khoảng 14 giờ, V thức dậy và đi ra phía sau nhà thì thấy nhà ông T1 đóng cửa, không có người, V nhìn qua cửa sổ thấy có chiếc xe môtô hiệu Yamaha, loại Sirius FI, màu đen, xám, đỏ biển số 71C2-428.94 để ở nhà sau cạnh bộ ván nên nảy sinh ý định lấy trộm xe. V nhặt thanh gỗ vuông gần đó cạy bản lề để mở cánh cửa nhà sau. Khi vào được bên trong nhà, V lấy chìa khóa xe đang để trên nóc tủ lạnh gần đó rồi đóng lại cửa sau lại như ban đầu, tháo hai kính chiếu hậu của xe bỏ lại và mở cửa bên hông nhà, điều khiển xe môtô rời đi. Trên đường đi, V ghé tiệm C tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An hỏi cầm xe nhưng không được. V tiếp tục điều khiển xe chạy về nhà tại ấp G, xã N, huyện B, tỉnh Long An cất giấu. Đến khoảng 17 giờ, V đem chiếc xe đến tiệm cầm đồ P 10 tại ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An cầm cố xe cho Phạm Văn B được số tiền 2.500.000đ, số tiền này V dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐĐGTS, ngày 31/7/2024 của Hội đồng định giá, kết luận: Xe môtô hiệu Yamaha, loại Sirius FI, dung tích xi lanh 113cm³, màu đen, xám, đỏ biển số 71C2-428.94 có giá trị là 4.752.000₫.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ: 01 xe môtô hiệu Yamaha, loại Sirius FI, biển số 71C2-428.94 do Phạm Văn B giao nộp, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho ông Nguyễn Thành T1.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thành T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường, ông Phạm Văn B cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền cầm cố xe.
Cáo trạng số 74/CT-VKS, ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước đã truy tố bị cáo Lê Hữu V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Lê Hữu V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hữu V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi liên quan đến vụ án không yêu cầu nên không xem xét.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hữu V khai nhận hành vi như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 04/7/2024, tại nhà của ông Nguyễn Thành T1, địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An, bị cáo Lê Hữu V đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius F1, biển số 71C2-824.94 của ông Nguyễn Thành T1 trị giá 4.752.000₫.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, ai xâm phạm đến sẽ bị pháp luật xử lý. Tuy nhiên do bị cáo tham lam, lười lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, có 01 tiền án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Vì vậy bị cáo phải biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định bị cáo Lê Hữu V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
[4] Ngày 11/01/2024 bị cáo mới chấp hành xong hình phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội khác do đó bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu là đã bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian với mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục bị cáo, đề cao tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không có yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Hữu V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Hữu V chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Quốc Dũng |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
