Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - BẮC NINH

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 20 tháng 10 năm 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cường Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Tất Phồn - Phó Trưởng phòng Văn hoá - Xã hội UBND xã Tân Chi, tỉnh Bắc Ninh;
  2. Bà Lê Thị Xuân - Giáo viên nghỉ hưu;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 20/10/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS, ngày 02/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 06/10/2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Sỹ B, sinh ngày 08/4/2010;

HKTT: Thôn B.U, xã LB, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Không rõ và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1983. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

2. Nguyễn Sỹ N, sinh ngày 03/5/2007; HKTT: Thôn B.U, xã LB, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Không rõ và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1983. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 1. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Sỹ B: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1983. Trú tại: Thôn B.U, xã LB, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Ng: Anh Nguyễn Sỹ T, sinh năm 1988. Trú tại: Thôn B.U, xã LB, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Sỹ B:

Ông Hoàng Nhật Huy - Trợ giúp viên pháp lý của T1 tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh số 2 (Có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2006. Trú tại: Khu X, phường V, tỉnh Bắc Ninh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1987. Trú tại: Khu Đ, phường H, tỉnh Bắc Ninh.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh (PC02) tiếp nhận nguồn tin của Công an xã Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đối với tin báo tố giác tội phạm của anh Nguyễn Văn T1 sinh năm 2006 ở khu phố X, phường V, tỉnh Bắc Ninh về việc: Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 26/6/2025, tại đoạn đường dân sinh thuộc địa phận thôn LS, xã Tiên Du, anh T1 và anh Nguyễn Thực Qn sinh ngày 05/10/2007 ở khu phố X, phường V, tỉnh Bắc Ninh bị 02 nam thanh niên lạ mặt chặn đầu xe, cầm thanh gậy tre dài khoảng 01m giơ về phía anh T1 và anh Q đe dọa cướp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade (xe chưa đăng ký), trị giá tài sản bị chiếm đoạt khoảng 46.000.000đồng.

Ngày 03/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành triệu tập Nguyễn Sỹ N và Nguyễn Sỹ B là hai anh em ruột đều ở Thôn B.U, xã LB, tỉnh Bắc Ninh đến làm việc và N, B tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen không có biển kiểm soát, số khung: RLHJK1401SZS15791, số máy: JK14E-0542482; 01 chiếc quần bò màu xanh; 01 chiếc áo phông cộc tay mặt sau thêu họa tiết hình người cưỡi ngựa; 01 chiếc quần bò màu đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, có xọc màu vàng.

Căn cứ vào lời khai của B và N và các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án xác định:

Buổi tối ngày 25/6/2025 rạng sáng ngày 26/6/2025, sau khi đi chơi bằng taxi về đến đoạn đường TL295B, thuộc địa phận thôn LS, thị trấn L, huyện TD (nay là xã TD), tỉnh Bắc Ninh thì không đủ tiền trả taxi nên B và N đã xuống xe để đi bộ về nhà. Khi đi đến Công ty nông sản HK địa chỉ ở thôn LS, xã TD thì B và N thấy cạnh bờ tường có 02 chiếc võng nên cả hai vào ngồi võng nghỉ ngơi.

Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 26/6/2025, anh Nguyễn Văn T1 điều khiển chiếc xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen (được dán đề can màu trắng) chưa đăng ký biển kiểm soát chở anh Nguyễn Thực Q để mang đồ ăn đến nhà anh Nguyễn Sỹ A, sinh năm 2004 ở thôn B.U. Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 26/6/2025, khi anh T1 điều khiển xe trên đoạn đường dân sinh thôn LS qua chỗ B và N thì B nhìn thấy xe anh T1 điều khiển. Do không có phương tiện đi lại nên B bảo với N "anh Nam ơi vừa có con xe AB màu trắng đẹp lắm có cướp không?”, N đồng ý. Sau đó, B đi lấy 01 chiếc gậy tre dài khoảng 01m đường kính khoảng 05 cm ở rệ đường để làm hung khí, rồi cùng N đi bộ hướng về thôn B.U để đợi khi nào anh T1 đi qua thì sẽ cướp xe. N và B đi được khoảng 50m thì nhìn thấy xe của anh T1 đi ngược lại. Thấy vậy, N và B nấp vào bụi cỏ ở ven đường để đợi, khi anh T1 điều khiển xe đi đến cách vị trí của N và B khoảng 10m, thì B cầm gậy tre bằng tay phải lao ra chặn đầu xe của anh T1, rồi Nam lao ra sau. B hô “Đ.m chúng mày đứng lại, Anh em lấy kiếm ra chém chúng nó..." để đe dọa anh T1 và anh Q. Thấy vậy, anh T1 hoảng sợ liền phanh gấp xe, quay đầu xe định bỏ chạy khiến xe bị đổ nghiêng sang trái không đi được nữa nên anh T1 và anh Q bỏ xe lại, chạy về hướng thôn B.U. B cầm gậy tre bằng tay phải đuổi theo một đoạn khoảng 10m nhưng không đuổi được nên B quay lại và vứt chiếc gậy tre lại khu vực hiện trường (B không nhớ vị trí cụ thể). Trong lúc này, N đi đến dựng chiếc xe mô tô lên rồi điều khiển xe chở B di chuyển ra đường TL295B về phường HL, tỉnh Bắc Ninh. Khi đi đến đoạn đường trong khu đất giãn dân gần nhà văn hóa khu Th, phường HL, N và B dừng xe lại, mở cốp xe thấy bên trong có 02 chiếc gương, 01 chiếc ô, 01 chiếc cờ lê, 01 chiếc tua vít, giấy bảo hành xe và giấy tờ mua bán xe ghi tên anh Nguyễn Văn T1 nên đã vứt những đồ vật này tại đây. Để tránh bị phát hiện, N và B bàn bạc thống nhất đi đến cánh đồng khu TN, phường HL (nơi vắng vẻ, ít người qua lại) để xé đề can màu trắng của xe vứt đi. Khoảng 03 giờ sáng cùng ngày, Nvà B đi đến đoạn đường đã thống nhất (đối diện chùa khu TN, phường HL) rồi cả 2 cùng xé đề can xe và tháo miếng ốp đuôi xe vứt đi. Sau đó, B điều khiển xe chở N đi về nhà mình ở thôn B.U, xã LB. Vì không có chìa khóa điện nên khi tắt máy thì xe sẽ phát báo hiệu chống trộm, do vậy B bật lại khóa điện rồi cùng N đi ngủ.

Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, B và N cùng rủ nhau mang chiếc xe mô tô trên đến cửa hàng sửa chữa xe để làm lại khóa điện. Do xe hết điện nên N và B mượn xe anh Nguyễn Sỹ C, sinh ngày 17/7/2010 ở cùng thôn (anh C là em họ của N và B) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, BKS: 20H6 - 2400. Bắc điều khiển chiếc xe mô tô trên đẩy N ngồi trên chiếc xe cướp được của anh T1 đi đến cửa hàng sửa chữa xe máy “Hoàng Vũ”, do anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1987 ở Khu Đ, phường HL, tỉnh Bắc Ninh làm chủ. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến quán của anh V thì B điều khiển xe về trả anh C còn N vào trong quán trao đổi với anh V. Tại đây, N nói với anh V “thầy thay ngay cho con chìa khóa xe”, anh V kiểm tra xe và bảo “xe máy này sử dụng khóa Smartkey - loại khóa từ bấm điều khiển từ xa” sửa hết 1.000.000đ thì N đồng ý. Sau khi thay khóa điện xong, N trả cho anh V 900.000đ và nợ lại 100.000đ, anh V đồng ý. Sau khi sửa xe xong, N điều khiển xe về nhà và gặp bà Nguyễn Thị Ng là mẹ của N và B. Bà Ng hỏi xe của ai thì N bảo xe mượn của bạn đi khoảng 10 ngày. Chiếc xe trên B và N cùng nhau sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 235/KL-ĐGTS ngày 22/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận: Giá của chiếc xe là: 42.000.000 đồng.

* Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:

  • Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen không có biển kiểm soát, số khung: RLHJK1401SZS15791, số máy: JK14E-0542482 là chiếc xe mà B và N cướp của anh T1; 01 chiếc quần bò màu xanh; 01 chiếc áo phông cộc tay mặt sau thêu họa tiết hình người cưỡi ngựa; 01 chiếc quần bò màu đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, có xọc màu vàng là trang phục N và B mặc khi thực hiện hành vi cướp tài sản.
  • 01 ốp nhựa đuôi xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen không có biển kiểm soát (thu giữ trong quá trình dẫn giải N và B chỉ vị trí xé decal xe) là ốp nhựa đuôi xe của anh T1 do B và N tháo vứt đi.

Ngày 22/9/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cùng ốp nhựa xe cho anh Nguyễn Văn T1. Anh T1 đã nhận lại xe và không yêu cầu B, N phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho B và N.

Đối với số tiền B và N còn nợ anh Vũ: Anh Vũ không yêu cầu B và N phải trả lại anh. Anh T1 và anh Q đều không bị thương tích gì nên hai anh không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại Cơ quan điều tra, B, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKS - KV8 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Sỹ B và Nguyễn Sỹ N về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Sỹ B và Nguyễn Sỹ N đều khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng; các bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đồng ý với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với 01 chiếc quần bò màu xanh; 01 chiếc áo phông cộc tay mặt sau thêu họa tiết hình người cưỡi ngựa; 01 chiếc quần bò màu đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, có xọc màu vàng là trang phục của các bị cáo mặc khi thực hiện hành vi cướp tài sản bị cơ quan công an thu giữ; các bị cáo không yêu cầu trả lại, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Sỹ B, bà Nguyễn Thị Ng trình bày:

Bà là mẹ đẻ của các bị cáo N và B, bà thừa nhận hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, rất nghiêm trọng vi phạm pháp luật song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến độ tuổi chưa thành niên của bị cáo B và nhân thân của bị cáo N để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra bà không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

* Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Ng, anh Nguyễn Sỹ T trình bày: Anh nhất trí với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Ng, không có ý kiến trình bày bổ sung gì thêm.

* Bị hại anh Nguyễn Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn V đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà. Anh T1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo còn anh V không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền còn nợ, không có yêu cầu gì nên các ý kiến, lời khai của anh T1, anh V có trong hồ sơ vụ án được Tòa án công bố theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cướp tài sản”.

  1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 115; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt:

    Nguyễn Sỹ B từ 34 tháng tù đến 37 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    2. Nguyễn Sỹ N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về trách nhiện dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

* Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần bò màu xanh; 01 chiếc áo phông cộc tay mặt sau thêu họa tiết hình người cưỡi ngựa; 01 chiếc quần bò màu đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, có xọc màu vàng.

* Về án phí: Bị cáo B được miễn án phí, bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Sỹ B trình bày bản luận cứ: Đồng ý với nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh về tội danh và các điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân tốt của bị cáo, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện giao nộp tài sản cướp được để khắc phục hậu quả; bị hại cũng có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo Bắc vẫn đang trong độ tuổi người chưa thành niên từ 14 đến 16 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91 Bộ luật Hình sự; Điều 115; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật, miễn án phí và hình phạt bổ sung cho bị cáo B.

Ý kiến đối đáp của đại diện Viện kiểm sát: Vẫn giữ nguyên quan điểm, không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo B.

Bị cáo Nguyễn Sỹ B và người đại diện hợp pháp của bị cáo nhất trí quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung gì thêm và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Sỹ N không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản xác định hiện trường, biên bản thân dẫn, phù hợp với thời gian, địa điểm, lời khai những người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 26/6/2025, tại đường dân sinh thôn LS, thị trấn L, huyện TD, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã TD, tỉnh Bắc Ninh), Nguyễn Sỹ B và Nguyễn Sỹ N có hành vi dùng gậy tre dài khoảng 1m, đường kính khoảng 5cm chặn đầu xe, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đối với anh Nguyễn Văn T1 làm anh T1 hoảng sợ lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm cướp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen không có biển kiểm soát, số khung: RLHJK1401SZS15791, số máy: JK14E-0542482 trị giá 42.000.000 đồng của anh T1. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe trên, B và N sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi lại.

Trong vụ án này, các bị cáo đã có hành vi dùng gậy tre dài khoảng 1m, đường kính khoảng 5cm chặn đầu xe, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đối với anh Nguyễn Văn T1. Vận dụng hướng dẫn tại mục 2 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự thì chiếc gậy tre dài khoảng 1m, đường kính khoảng 5cm là phương tiện nguy hiểm, đây là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm d, khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân do vậy cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng luật hình nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Xét vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không câu kết chặt chẽ, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không có sự phân công, phân nhiệm vụ rõ ràng, hành động bộc phát. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Sỹ B là người có vai trò chính đã khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị công cụ phạm tội đồng thời là người trực tiếp thực hiện hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc đối với bị hại còn Nguyễn Sỹ N là người có vai trò đồng phạm giúp sức trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Do vậy khi quyết định hình phạt cần cho bị cáo Bắc mức hình phạt cao hơn bị cáo Nam.

[4]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều xuất thân từ gia đình con em lao động, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện giao nộp tài sản do phạm tội mà có để khắc phục hậu quả; bị hại cũng có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Sỹ B thời điểm phạm tội vẫn đang trong độ tuổi người chưa thành niên từ 14 đến 16 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên cần áp dụng các quy định tại Chương VI của Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 là phù hợp.

Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh là phù hợp. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xét xử các bị cáo bằng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, bị cáo B là trẻ em nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại Nguyễn Văn T1 đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn V không yêu cầu các bị cáo phải trả lại tiền nợ còn thiếu, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh T1 và anh Q đều không bị thương tích gì nên hai anh không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 chiếc quần bò màu xanh; 01 chiếc áo phông cộc tay mặt sau thêu họa tiết hình người cưỡi ngựa; 01 chiếc quần bò màu đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, có xọc màu vàng là trang phục N và B mặc khi thực hiện hành vi cướp tài sản bị công an thu giữ. Tại phiên toà hôm nay các bị cáo không yêu cầu trả lại, các đồ vật trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Liên quan trong vụ án này: Đối với anh Nguyễn Văn V là chủ cửa hàng sửa chữa xe máy “Hoàng Vũ”. Khi anh V vừa hỏi nguồn gốc xe vừa điều khiển xe đi luôn thì N mới nói là “xe ăn trộm” nên anh V không nghe được câu trả lời của N. Do vậy, không có căn cứ để xử lý anh V về tội Không tố giác tội phạm theo Điều 390 Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra đã tiến hành giáo dục, nhắc nhở đối với anh V là phù hợp

Đối với bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1983 là mẹ của B, N. Bà Ng không biết nguồn gốc chiếc xe do N và B cướp được mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra tiến hành giáo, dục nhắc nhở đối với bà Ng là phù hợp.

Đối với hành vi của B và N điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đều chưa có giấy phép lái xe mô tô, vi phạm điểm a khoản 5 Điều 18 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP. Do vậy, Cơ quan điều tra có công văn đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo quy định.

Đối với anh T1 có hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông mà không có giấy phép lái xe mô tô, vi phạm điểm a khoản 5 Điều 18 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP. Do vậy, Cơ quan điều tra có công văn đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Sỹ N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Nguyễn Sỹ B là trẻ em dưới 16 tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Sỹ N phạm tội “Cướp tài sản".

- Hình phạt và điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 115; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt:

Nguyễn Sỹ B 34 (Ba mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam số 06/2025/HSST-QĐTG ngày 20/10/2025 của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt:

Nguyễn Sỹ N 07 (Bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam số 07/2025/HSST-QĐTG ngày 20/10/2025 của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần bò màu xanh; 01 chiếc áo phông cộc tay mặt sau thêu họa tiết hình người cưỡi ngựa; 01 chiếc quần bò màu đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, có xọc màu vàng, đều đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Bắc Ninh).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Sỹ N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Sỹ B.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo Bắc có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần có liên quan trong bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND/VKSND/Công an/Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 8 - Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 1, CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 8 - Bắc Ninh (HLPL);
  • - Người TGTT;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đỗ Cường Dũng

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 20/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về cướp tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Sỹ B và Nguyễn Sỹ N phạm tội Cướp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger