|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 20 - 3 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thới Phần.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lâm Quang Sô.
- Ông Lê Minh Thật.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Truyển Hân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Khoa, kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn V, sinh ngày: 03/11/2000; Tên gọi khác: Không; Đăng ký thường trú: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Q (còn sống) và bà Trần Thị T (còn sống); Bị cáo có 02 anh, chị, em ruột: Lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tuyên phạt Phạm Văn V 06 tháng tù giam. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Bản án phúc thẩm số 05/2022/HS-PT ngày 07/01/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang chấp nhận kháng cáo của Phạm Văn V, sửa bản án sơ thẩm 16/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, chuyển hình phạt tù sang hình phạt tiền là hình phạt chính. Tuyên phạt Phạm Văn V 25.000.000 đồng. Ngày 21/9/2022, Phạm Văn V đã chấp hành xong.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực huyện C, tỉnh Hậu Giang trong vụ án khác. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn X; Địa chỉ: Số B T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm: 1981 – Chức vụ: Giám đốc. Nơi cư trú: Số D đường T, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Sơn Vĩnh T2, sinh năm: 1996. Nơi thường trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Địa chỉ liên hệ: Ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh V1, sinh năm: 1987; Nơi cư trú: Số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị D, sinh năm: 1964; Nơi thường trú: Số B L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: MP8/17/11 Chung cư M, B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Tô H, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Mộng T3, sinh năm: 1996; Nơi cư trú: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn V là người làm thuê bom cát cho công trình tuyến đường cao tốc đi qua địa bàn huyện L. Hằng ngày đi bơm cát, biết ống nhựa bơm cát thường để cặp theo tuyến lộ và ban đêm không có người trông coi nên V đã nảy sinh ý định trộm ống nhựa bơm cát bán lấy tiền tiêu xài. V gọi điện cho bà Trần Thị D cũng làm nghề bơm cát thuê. V hỏi bà D có mua ống nhựa bơm cát không, loại ống phi 250, dài 4 mét, với giá 500.000 đồng/ống. Bà D trả lời có mua và hỏi ống do đâu mà có. V trả lời là do người quản lý nhờ bán giùm và cho V 500.000 đồng. Sau đó, V tiếp tục gọi điện thoại cho anh Nguyễn Tô H để thuê anh H chở ống nhựa về kho ở thành phố Hồ Chí Minh, thì anh H đồng ý.
Đến khoảng 19 giờ ngày 14/8/2024, Phạm Văn V đến đoạn đường cao tốc thuộc ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang, ngồi chờ đến khoảng 22 giờ đêm, khi mọi người làm thuê về, không còn ai trông coi ống nhựa. V gọi điện thoại kêu Nguyễn Tô H điều khiển xe ô tô, biển kiểm soát 95H-009.90, tải trọng 3,5 tấn đến chở ống nhựa. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, V và H chất lên xe được 40 ống nhựa, V cho số điện thoại của bà D (người mua ống) cho H đi một mình lên công trình cao tốc T, tỉnh Long An liên lạc giao ống nhựa, còn V thì đi về nhà. Sau khi nhận đủ 40 ống nhựa, bà D trừ lại tiền ống thiếu mét (loại 3,5 mét) và một số ống nhựa bị nứt đầu, bà D chuyển trả tiền cho Phạm Văn V qua tài khoản ngân hàng A chi nhánh thị xã L là 16.200.000 đồng và chuyển trả tiền chở ống nhựa cho Nguyễn Tô H qua tài khoản ngân hàng V3 là 2.800.000 đồng.
Đến 10 giờ 30 phút sáng ngày 15/8/2024, anh Nguyễn Ngọc T4 (là người làm thuê bơm cát) phát hiện mất ống nhựa nên báo cho anh Nguyễn Thanh V1 (Chủ quản lý ống nhựa) và báo cho Công xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Qua kiểm tra và rà soát đối tượng, Công an xã T đã mời Phạm Văn V về làm việc và V đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp ống nhựa tại đoạn đường cao tốc thuộc ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Ngoài ra, V còn khai nhận trước đó đã một mình thực hiện 02 vụ trộm cắp ống nhựa trên địa bàn xã L, huyện L và thị trấn V, huyện L.
Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/6/2024, Phạm Văn V đến đoạn đường cao tốc thuộc ấp D, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang ngồi chờ đến khoảng 23 giờ đêm, khi mọi người về nhà, V trộm 36 ống nhựa bom cát của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (Công ty TNHH X) do anh Nguyễn Bình N là người đại diện theo pháp luật. Sau đó V gọi điện thoại thuê Nguyễn Tô H điều khiển xe ô tô tải đến chở ống lên công trình cao tốc T, tỉnh Long An bán cho bà D. Sau khi nhận đủ 36 ống nhựa bà D trừ lại tiền ống thiếu mét (loại 3,5 mét) và một số ống nhựa bị nứt đầu, bà D chuyển trả tiền cho Phạm Văn V qua tài khoản ngân hàng A chi nhánh thị xã L là 14.000.000 đồng và chuyển trả tiền chở ống nhựa cho Nguyễn Tô H qua tài khoản ngân hàng V3 là 2.500.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04/8/2024, Phạm Văn V đến đoạn đường cao tốc thuộc ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang ngồi chờ đến khoảng 24 giờ, khi mọi người về nhà, V trộm 40 ống nhựa bom cát của Công ty TNHH X. Sau đó V gọi điện thoại thuê Nguyễn Tô H điều khiển xe ô tô tải chở ống đến kho D15, Võ Văn V2, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh bán cho bà D. Sau khi nhận đủ 40 ống nhựa bà D trừ lại tiền một số ống nhựa bị nứt đầu, bà D chuyển trả tiền cho Phạm Văn V qua tài khoản ngân hàng A chi nhánh thị xã L là 16.900.000 đồng và chuyển trả tiền chở ống cho Nguyễn Tô H qua tài khoản ngân hàng V3 là 2.800.000 đồng.
Quá trình điều tra, Phạm Văn V đã thừa nhận toàn bộ các lần thực hiện hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành thu giữ toàn bộ 116 ống nhựa mà Phạm Văn V đã bán cho bà Trần Thị D.
Tại kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:
- - 17 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 04 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng có giá trị là 11.617.000 đồng.
- - 19 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 3.5 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng có giá trị là 11.875.000 đồng.
- - 40 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 04 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng có giá trị là 27.333.000 đồng.
- - 38 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 04 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng có giá trị là 25.967.000 đồng.
- - 02 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 3.5 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng có giá trị là 1.250.000 đồng.
Như vậy, tổng cộng giá trị tài sản mà Phạm Văn V chiếm đoạt của các bị hại Nguyễn Thanh V1 và Nguyễn Bình N là 78.042.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- - 17 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 04 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng.
- - 19 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 3,5 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng.
- - 40 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 04 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng.
- - 38 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 04 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng.
- - 02 ống nhựa loại phi 250 mm, dài 3,5 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng.
- - 01 xe ô tô, biển kiểm soát 95H-009.90, tải trọng 3,5 tấn của Nguyễn Tô H.
Xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho các chủ sở hữu những đồ vật sau:
- - Trả lại cho ông Sơn Vĩnh T2 là người đại điện theo uỷ quyền của người bị hại là Công ty TNHH X: 76 ống nhựa bom cát, trong đó 57 ống nhựa, loại phi 250 mm, dài 04 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng và 19 ống nhựa, loại phi 250 mm, dài 3,5 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho người bị hại ông Nguyễn Thanh V1 40 ống nhựa bom cát, trong đó 38 ống nhựa, loại phi 250 mm, dài 04 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng và 02 ống nhựa, loại phi 250 mm, dài 3,5 mét, dày 7,3 mm, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho anh Nguyễn Tô H và chị Nguyễn Thị Mộng T3 01 xe ô tô, biển kiểm soát 95H-009.90, tải trọng 3,5 tấn.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Thanh V1 và ông Sơn Vĩnh T2 là đại điện theo uỷ quyền của người bị hại Công ty TNHH X đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị D không yêu cầu Phạm Văn V trả lại tiền mua ống nhựa và không yêu cầu Nguyễn Tô H trả lại tiền chở ống nhựa nên không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như trong Cáo trạng đã nêu, lợi dụng đêm tối và sự sơ hở của người bị hại trong quản lý tài sản, nên bị cáo đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 116 ống nhựa bơm cát có tổng giá trị là 78.042.000 đồng.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tô H và chị Nguyễn Thị Mộng T3 trình bày đã nhận lại 01 xe ô tô, biển kiểm soát 95H-009.90, tải trọng 3,5 tấn nên không yêu cầu gì thêm.
Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSLM-HS ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Phạm Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn V về tội “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời đánh giá phân tích về tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn V từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho các chủ sở hữu xong.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái và cảm thấy ăn năng hối cãi về hành vi của bị cáo. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giạm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự. Bị cáo, bị hại và người liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Bị hại ông Nguyễn Thanh V1, ông Sơn Vĩnh T2 là đại điện theo uỷ quyền của người bị hại Công ty TNHH X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lí do. Trong quá trình điều tra, truy tố họ đã có lời khai, về trách nhiệm dân sự họ không yêu cầu gì thêm nên xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật.
[3]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để chứng minh được rằng. Vào các ngày 30/6/2024, ngày 04/8/2024 và ngày 14/8/2024, lợi dụng đêm khuya và sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại mà bị cáo Phạm Văn V đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 03 lần với tổng tài sản gồm 116 ống nhựa bơm cát với tổng giá trị là 78.042.000 đồng.
Với hành vi của bị cáo kết hợp với tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, Viện kiểm sát truy tố bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị cáo Phạm Văn V là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
[4]. Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo có sức khoẻ, lẽ ra phải lao động chân chính để tạo ra thu nhập chính đáng, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, tôn trọng và bảo vệ tài sản của người khác. Bản thân bị cáo thừa biết được việc làm sai trái của mình nhưng vì mục đích có tiền để tiêu xài cá nhân nhưng lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ thành quả lao động của người khác và xem thường pháp luật nên bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách cố ý. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp 03 lần, các lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[7].Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tuyên phạt Phạm Văn V 06 tháng tù giam. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Bản án phúc thẩm số 05/2022/HS-PT ngày 07/01/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang chấp nhận kháng cáo của Phạm Văn V, sửa bản án sơ thẩm 16/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, chuyển hình phạt tù sang hình phạt tiền là hình phạt chính. Tuyên phạt Phạm Văn V 25.000.000 đồng. Ngày 21/9/2022, Phạm Văn V đã chấp hành xong. Trong thời gian bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo không thay đổi bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tại địa bàn huyện C thể hiện tính xem thường pháp luật.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[9]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Thanh V1 và ông Sơn Vĩnh T2 là đại điện theo uỷ quyền của người bị hại Công ty TNHH X đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị D không yêu cầu Phạm Văn V trả lại tiền mua ống nhựa và không yêu cầu Nguyễn Tô H trả lại tiền chở ống nhựa nên không xem xét.
[10]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật.
[11]. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn V phải nộp theo quy định pháp luật.
[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này theo quy định pháp luật.
[13]. Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn V 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Ngày 05/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho bị hại Công ty TNHH X và bị hại Nguyễn Thanh V1 xong nên không xem xét. Ngày 29/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tô H và chị Nguyễn Thị Mộng T3 xong nên không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/3/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Thới Phần |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn V phạm tội trộm cắp tài sản
