Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 20 tháng 02 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Cao Trí; Ông Lê Trung Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 2005; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; cha Nguyễn Thành N1, mẹ hiện không xác định được họ tên, địa chỉ.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/11/2024 đến ngày 25/12/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C và từ ngày 25/12/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).

Bị hại: Võ Nhựt H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Nguyễn Văn M, sinh năm 1947; nơi cư trú: Ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị Hữu H1, sinh năm 1972; nơi cư trú: P, phường E, quận F, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  • - Lê Thị Diễm H2, sinh năm 1974. nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng: Võ Nhựt T, Võ Thành A, Huỳnh Thanh L, Lê Thanh T1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/5/2024, Võ Nhựt T tổ chức uống rượu cùng Huỳnh Thanh L, Nguyễn Văn N tại nhà của Cù Văn T2 thuộc ấp M, xã M, huyện C (Cù Văn T2 không có mặt tại nhà), trong lúc uống rượu thì gặp Võ Nhựt H điều khiển xe môtô biển số 71B1-091.42 đi ngang nên T2 rủ H vào uống rượu chung, H đồng ý. Tại đây, T2, L, N và H uống rượu đến 04 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, thì nghỉ. L ra về còn H, N, ngủ lại nhà T2. Lúc này, N nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của H để bán lấy tiền tiêu xài, quan sát thấy H, T2 ngủ say, N lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số tiền 800.000 đồng và 01 xe môtô biển số 71B1-091.42 của H rồi điều khiển xe đến Thành phố Hồ Chí Minh bán xe và điện thoại cho người thanh niên (không rõ họ, địa chỉ) được 8.000.000 đồng, số tiền có được N tiêu xài cá nhân hết. Riêng H phát hiện tài sản bị mất trộm đến Công an xã M trình báo và yêu cầu N bồi thường tài sản bị mất. Sau khi sự việc xảy ra N đã lẫn trốn khỏi địa phương, đến ngày 13/11/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C bắt theo quyết định truy nã.

Kết luận định giá tài sản số 17/KL.HĐĐGTS ngày 03/6/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 71B1-091.42 trị giá 10.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 12 Promax, trị giá 9.000.000 đồng và 01 (một) ốp lưng điện thoại Iphone 12 Promax, trị giá 10.000 đồng. Tổng trị giá 19.010.000 đồng (Mười chín triệu, không trăm mười nghìn đồng).

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của N phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được.

Lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trình bày phù hợp với nội dung vụ án.

Vật chứng vụ án: 01 giỏ trước xe môtô bằng kim loại màu đen; 01 baga thân xe môtô bằng inox; 02 yếm xe môtô bằng nhựa màu xanh, hiệu Honda.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Nhật H3 yêu cầu Nguyễn Văn N bồi thường 19.810.000 đồng (01 xe mô tô trị giá 10.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone12 Promax, trị giá 9.000.000 đồng, 01 ốp lưng điện thoại Iphone 12 Promax, trị giá 10.000 đồng và số tiền 800.000 đồng).

Cáo trạng số: 12/CT-VKSCP ngày 22 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; tình tiết tăng nặng: không có; tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thuộc thành phần lao động nghèo, học vấn thấp (không biết chữ) theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho anh Võ Nhựt H số tiền 19.810.000 đồng.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định vào ngày 05/5/2024 bị cáo Nguyễn Văn N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Võ Nhựt H gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax và 01 xe môtô biển số 71B1-091.42 qua định giá trị giá 19.010.00 đồng và số tiền 800.000 đồng. Tổng cộng 19.810.000 đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng rất xấu đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện xem thường pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn Nghĩa L1 người có nhân thân xấu, ngày 18/01/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 19/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án do bị hại rút yêu cầu khởi tố. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thuộc thành phần lao động nghèo, học vấn thấp (không biết chữ) nên nhận thức pháp luật hạn chế theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Bị hại Võ Nhựt H yêu cầu bị cáo bồi thường tài sản bị chiếm đoạt tổng cộng 19.810.000 đồng. Bị cáo đồng ý nên HĐXX công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.

Vật chứng vụ án: 01 giỏ trước xe môtô bằng kim loại màu đen; 01 baga thân xe môtô bằng inox; 02 yếm xe môtô bằng nhựa màu xanh, hiệu Honda không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải bồi thường.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2024.
  • - Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 589 Bộ luật dân sự,
  • Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho bị hại Võ Nhựt H số tiền 19.810.000 đồng (mười chín triệu, tám trăm mười nghìn đồng).
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 giỏ trước xe môtô bằng kim loại màu đen; 01 baga thân xe môtô bằng inox; 02 yếm xe môtô bằng nhựa màu xanh, hiệu Honda.
  • (Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú ngày 18/02/2025).
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Nguyễn Văn N chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 990.000 đồng (chín trăm, chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV-THA – TAND tỉnh An Giang;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THA.DS huyện Châu Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Nghĩa phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger