Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày: 13-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Diễm Phúc, bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 13/3/2025, tại Phòng xét xử - trụ sở Toà án nhân dân huyện P, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Bá H

(Tên gọi khác: Không); sinh ngày: 07/6/1997 tại Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Số CCCD: [...] cấp ngày 15/02/2024. Nơi cư trú: Tổ C, phường T, thị xã H, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá T và bà Nguyễn Thị L; Vợ con chưa có;

Tiền án: 02 tiền án:

  • Ngày 28/09/2018: Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) xử phạt 03 năm tù về tội : Trộm cắp tài sản” và 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”. Tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù tại bản án số 132/HSPT (đã chấp hành xong bản án).
  • Ngày 30/3/2022: Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy xử phạt 02 năm 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 15/2022/HS-ST ngày (đã chấp hành xong bản án).

Tiền sự: Không

Quá trình nhân thân:

  • Ngày 20/10/2013 về tội “Trộm cắp tài sản” bị Công an thành phố H xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng theo quyết định số 3843 (đã nộp phạt).
  • Ngày 02/4/2014: “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy xử phạt 06 tháng tù tại bản án số 08/HSST (đã chấp hành xong bản án).
  • Ngày 13/11/2014: “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy xử phạt 06 tháng tù tại bản án số 39/HSST (đã chấp hành xong bản án).
  • Ngày 04/8/2015: “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 03 tháng tù tại bản án số 181/HSST (đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/06/2024, chuyển tạm giam từ ngày 25/6/2024, có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH X;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Văn T1; Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH X.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Phan Công M, sinh năm: 1987; Chức vụ: Phó giám đốc; Địa chỉ: phòng A, chung cư V, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Lê Bá T; sinh năm:1964; địa chỉ: Tổ C, phường T, thị xã H, thành phố H, có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1985; địa chỉ: B N, phường A, quận P, thành phố H, vắng mặt.

Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Quốc T2, sinh năm: 1985; địa chỉ: 1 N, phường P, quận T, thành phố H, vắng mặt.
  • + Ông Mai Văn L1, sinh năm: 1981; địa chỉ: E V, phường K, quận P, thành phố H, vắng mặt.
  • + Ông Võ T3, sinh năm: 1985; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, thành phố H, vắng mặt.
  • + Ông Hồ Quốc B, sinh năm: 2000; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, thành phố H, vắng mặt.
  • + Ông Hoàng Quang T4, sinh năm: 1978; địa chỉ: TDP U, thị trấn S, huyện Q, thành phố H, vắng mặt.
  • + Ông Võ Xuân Bảo N1, sinh năm: 1964; địa chỉ: Xã Q, huyện Q, thành phố H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong quá trình đi làm phụ hồ ở địa bàn xã P, Lê Bá H, đã phát hiện có số sắt Cừ Larsen của Công ty TNHH X đang thi công bờ kè sông N để ở phần đất sát bờ sông thuộc thôn D, xã P, huyện P không có ai trông giữ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt số sắt cừ Larsen trên để bán lấy tiền tiêu xài. H lên mạng Interrnet tìm kiếm nơi mua sắt phế liệu thì thấy có cơ sở thu mua phế liệu ở số B đường N, phường A, thành phố H do bà Nguyễn Thị N (sinh năm: 1985, trú tại B N, phường A, quận P, thành phố H) làm chủ nên H đã đến tận nơi để hỏi về việc bán sắt và được bà N cho biết giá mua sắt phế liệu tại cơ sở của bà là 8.600 đồng/1kg. Sau đó, H xin số điện thoại của bà N rồi đi về tìm cách trộm cắp số sắt trên. Khoảng 14 giờ ngày 13/6/2024, H điều khiển xe mô tô 75AG-043.72 đi một mình đến khu vực phường A thì thấy 01 xe cẩu biển số 75C- 092.92 nên đã đến thuê xe về P cẩu sắt, sau khi trao đổi với anh Nguyễn Quốc T2 (sinh năm: 1985, trú tại 1 N, phường P, quận T, thành phố H) là người lái xe cẩu cùng với phụ xe là anh Mai Văn L1 (sinh năm: 1981, trú tại E V, phường K, quận P, thành phố H,) thì anh T2 và anh L1 đồng ý đi cẩu sắt với giá 1.000.000 đồng, H chạy trước dẫn đường cho xe cẩu chạy về bờ kè sông N cẩu 12 thanh sắt Cừ L2 lên xe, H gọi điện thoại cho bà N thì bà N yêu cầu chở đến trạm cân B1 ở đường P, phường A để cân sắt, kết quả cân được 5.120kg. Sau đó bà N trả cho H số tiền 43.100.000 đồng, H trả tiền xe cẩu 1.000.000 đồng, số tiền còn lại H tiêu xài cá nhân hết. Bà N2 sau khi mua số sắt cừ trên thì đã bán cho một cơ sở thu mua sắt phế liệu ở miền B (không xác định được địa chỉ cụ thể) số tiền là 49.152.000 đồng.

Với ý định tiếp tục trộm cắp sắt Cừ L2 bán để lấy tiền tiêu xài nên vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 15/6/2024, H sử dụng điện thoại hiệu Nokia, số thuê bao 0346671579 gọi cho bà N2 nhờ thuê xe cẩu nhưng bà N2 trả lời là không có xe cẩu và nói khuya rồi không cân sắt nên H điều khiển xe mô tô 75K3- 3587, một mình tự đi tìm xe cẩu, đến khoảng 0 giờ 45 phút ngày 16/6/2024 khi H đang đi trên đường V gần cầu vượt T thì gặp xe cẩu biển số 75C - 081.41 do anh Hồ Quốc B (sinh nămn: 2000, trú tại tổ A, phường T, thị xã H, thành phố H) điều khiển cùng với phụ xe là Võ T3 (sinh năm: 1985, trú cùng địa chỉ với anh B) đang chạy trên đường, H liền gọi xe lại và thuê về bờ kè sông N cẩu 22 thanh cừ L2 lên xe rồi chở đến cơ sở thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị N, H gọi nhiều lần cho bà N để bán thì bà N hẹn đến sáng mới cân sắt nên H cho xe cẩu các thanh cừ L2 xuống để gần cơ sở bà N rồi liên hệ bà N mượn 5.000.000 đồng, H trả tiền công cẩu cho anh B 4.000.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng, H tiêu xài hết 310.000 đồng. Đến khoảng 6 giờ 30 phút cùng ngày, H quay lại và cùng bà N gọi xe tải chở số Cừ Larsen trên đến trạm cân B1 cân 22 thanh cừ Larsen có khối lượng là 8.310kg và bán cho bà N với số tiền là 69.660.000 đồng. Do bà N không có đủ tiền mặt nên nói H đợi để đi mượn thêm tiền. Trong lúc đứng đợi, H biết việc trộm cắp của mình đã bị bại lộ nên đã bỏ đi. Đến khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, anh Dương Kim T5 - kỹ sư thi công công trình phát hiện bị mất số cừ Larsen nên đã làm đơn trình báo với Công an huyện P. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã truy xét, xác minh làm rõ hành vi của Lê Bá H.

* Về vật chứng thu giữ:

  • Số tiền 690.000 đồng do H giao nộp.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, Model TA-1375, IMEI: 355406841225451.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu vàng trắng, biển số 75AG- 043.72; số máy JA70E0126774; số khung: RLHJA3932PY703837.
  • 22 (Hai mươi hai) cây sắt cừ Larsen IV (76,1kg/md).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/ KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P kết luận: 22 (Hai mươi hai) thanh cừ Larsen IV (76,1kg/md), có tổng khối lượng 8.310kg (Cừ đã qua sử dụng) tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 16/6/2024 có tổng giá trị là 112.185.000 đồng (Một trăm mười hai triệu một trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/ KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P kết luận: 12 (Mười hai) thanh cừ Larsen IV (76,1kg/md), có tổng khối lượng 5.120kg (Cừ đã qua sử dụng) tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 13/6/2024 có tổng giá trị là 69.120.000 đồng (Sáu mươi chín triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).

Qúa trình điều tra, bị cáo Lê Bá H có biểu hiện thần kinh không bình thường và gia đình bị cáo có cung cấp sổ khám bệnh tâm thần của H nên ngày 01/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 282/QĐ-ĐCSHS để giám định tình trạng tâm thần đối với Lê Bá H.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 1661/KLGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Trung tâm P kết luận:

  • + Trước thời điểm gây án ngày 16/6/2024:
    • a. Về y học: Sức khoẻ tâm thần bình thường.
    • b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
  • + Sau thời điểm gây án ngày 16/6/2024:
    • a. Về y học: Sức khoẻ tâm thần bình thường.
    • b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
  • + Thời điểm hiện tại:
    • a. Về y học: Sức khoẻ tâm thần bình thường.
    • b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

* Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu Công ty TNHH X (Hai mươi hai) thanh cừ Larsen IV (76,1kg/md), có tổng khối lượng 5.120kg (cừ đã qua sử dụng).

- Số tiền 690.000 đồng do H giao nộp; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, Model TA-1375, IMEI: 355406841225451; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu vàng trắng, biển số 75AG- 043.72; số máy JA70E0126774; số khung: RLHJA3932PY703837 hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.

* Về trách nhiệm dân sự:

Ông Lê Bá T - cha của Lê Bá H xin đền bù số tiền 25.000.000 đồng để khắc phục hậu quả nhưng Công ty TNHH X không đồng ý và yêu cầu bị cáo Lê Bá H phải đền bù số tiền 12 cây sắt Cừ Larsen chưa thu hồi được có giá trị tương ứng là 102.400.000 đồng.

Đối với số tiền 5.000.000 đồng mà bà Nguyễn Thị N đã cho H mượn vào ngày 16/6/2024, nay bà N không yêu cầu H phải trả lại cho bà.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSPV ngày 30 tháng 11 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố Lê Bá H về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Hình phạt: Áp dụng điểm c, g khoản 02 Điều 173, điểm s khoản 01, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 01 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Bá H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là 16/06/2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề ghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng.
  • Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị:
    • + Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, Model TA-1375, IMEI: 355406841225451.
    • + Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu vàng trắng, biển số 75AG- 043.72; số máy JA70E0126774; số khung: RLHJA3932PY703837. Đứng tên đăng Ký là Lê Bá H. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của ông Lê Bá T (bố của Lê Bá H), do ông T bị nợ xấu nên nhờ H đứng tên và ông T là người đứng ra mua trả góp hàng tháng đồng thời chiếc xe này cũng không sử dụng vào việc vận chuyển tài sản trộm cắp. Hơn nữa chiếc xe này là phương tiện kiếm sống duy nhất của gia đình ông T. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho ông Lê Bá T.
  • Về dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 02, 03 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao buộc bị cáo bồi thường số tiền 69.120.000 đồng. Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 690.000 đồng là tiền có được từ việc trộm cắp tài sản của Công ty TNHH X nên số tiền này cần trả lại cho bị hại và bị cáo phải bồi thường số tiền còn thiếu là 68.430.000 đồng; Đối với số tiền 5.000.000 đồng mà bà Nguyễn Thị N đã cho H mượn vào ngày 16/6/2024, nay bà N không yêu cầu H phải trả lại nên không xem xét.
  • Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTYQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 buộc bị cáo chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Trong hai ngày 13/6/2024 và 16/6/2024 với ý định trộm cắp số sắt cừ L2 để bán lấy tiền tiêu xài, Lê Bá H thấy nhiều thanh sắt Cừ Larsen của Công ty TNHH X để ở phần đất sát bờ sông N thuộc thôn D, xã P, huyện P, thành phố H không có ai trông giữ nên H đã thuê xe cẩu chở 34 thanh sắt Cừ L2 về bán cho bà Nguyễn Thị N để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng số 34 thanh sắt Cừ L2 qua định giá có giá trị là 181.305.000 đồng. Do đó hành vi của Lê Bá H có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản “ với tình tiết định khung hình phạt là “Chiếm đoạt tài sản giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” và “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm c,g khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo về tội danh theo điều luật như bản Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Lê Bá H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại không quản lý tài sản để thực hiện hành vi tội phạm. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và làm gương cho kẻ khác. Bị cáo có 02 tiền án và có nhân thân rất xấu nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tự rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Lê Bá H được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

- Tình tiết tăng nặng: Quá trình điều tra, truy tố xác định bị cáo Lê Bá H phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã phân tích ở trên, trên cơ cở khung hình phạt quy định, xét cần thiết phải cách ly bị cáo Lê Bá H ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, trở thành công dân tốt cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án:

  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, Model TA-1375, IMEI: 355406841225451(đã qua sử dụng);

Xét thấy đây là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

  • + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu vàng trắng, biển số 75AG- 043.72; số máy JA70E0126774; số khung: RLHJA3932PY703837 đứng tên Lê Bá H. Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của ông Lê Bá T (bố của Lê Bá H), do ông T bị nợ xấu nên nhờ bị cáo H đứng tên và quá trình sử dụng ông Lê Bá T là người đứng ra mua trả góp hàng tháng, hiện nay cũng đã trả góp xong đồng thời chiếc xe này cũng không sử dụng vào việc vận chuyển tài sản trộm cắp. Hơn nữa ông Lê Bá T làm nghề lái xe ôm, chiếc xe này là phương tiện kiếm sống duy nhất của gia đình ông T. Do đó Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho ông Lê Bá T.
  • + Đối với số tiền 690.000 đồng do bị cáo giao nộp là tiền có được từ việc trộm cắp tài sản của Công ty TNHH X nên số tiền này cần trả lại cho Công ty TNHH X là phù hợp với pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra phía Công ty TNHH X yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 102.400.000 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 69.120.000 đồng theo bản kết luận định giá tài sản số 17/ KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P. Bị cáo Lê Bá H cũng đồng ý bồi thường số tiền 69.120.000 đồng. Vì vậy Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo bồi thường số tiền 69.120.000 đồng. Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 690.000 đồng là tiền có được từ việc trộm cắp tài sản của Công ty TNHH X nên số tiền này cần trả lại cho bị hại. Buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền còn thiếu là 68.430.000 đồng.

Đối với số tiền 5.000.000 đồng mà bà Nguyễn Thị N đã cho H mượn vào ngày 16/6/2024, nay bà N không yêu cầu H phải trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là: 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là: 68.430.000 đồng X 5%= 3.421.500 đồng (Làm tròn thành: 3.422.000 đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Bá H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 01, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Bá H 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/6/2024.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, Model TA-1375, IMEI: 355406841225451.

Trả lại cho ông Lê Bá T: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu vàng trắng, biển số 75AG- 043.72; số máy JA70E0126774; số khung: RLHJA3932PY703837. Đứng tên đăng ký là Lê Bá H.

Tất cả các vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.

Trả lại cho Công ty TNHH X số tiền 690.000 đồng. Hiện đang được tạm giữ tại tài khoản 3949.0.1054091.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 17/12/2024 tại Kho bạc nhà nước huyện P.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 02, Điều 03 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao buộc bị cáo Lê Bá H phải bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền là 68.430.000 đồng (Sáu mươi tám triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).
  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Bá H chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.422.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  1. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND huyện P;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Huế;
  • - Phòng PC06 CA TP Huế;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Bá H - trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger