Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 13 tháng 02 năm 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết

Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Hoai, ông Hứa Hoàng Thảo

và ông Trần Công Lập.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Hải Cảng và ông Trần Quách Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2025/QĐXXST-HS, đối với các bị cáo:

  1. Võ À M, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2004, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: số B, tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Võ Thanh B và bà Nguyễn Kim T; vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).

  2. Huỳnh Nhựt T1, sinh ngày 08 tháng 6 năm 1996, tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký HKTT: ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Huỳnh Trung T2 và bà Võ Kim H; chồng, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).

  1. Huỳnh Bé T3, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2001, tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Huỳnh Trung T2 và bà Võ Kim H; chồng, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).

  2. Đỗ Chí H1 (còn có tên gọi khác là Thanh S), sinh ngày 16 tháng 10 năm 1999, tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Đỗ Minh C và bà Trần Thị Ú; vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Võ À M: Bà Bùi Trần Phú T4,Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Nhựt T1: Ông Đinh Quang K, Luật sư Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).

Bị hại:

  • - Bà Nguyễn Thị Lệ H2, sinh năm 1963; địa chỉ: khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  • - Bà Huỳnh Thị Hồng L, sinh năm 1977; địa chỉ: khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Phạm Minh T5, sinh năm 1994; địa chỉ: số C, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • - Nguyễn Minh H3, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
  • - Võ Kim H, sinh năm 1975; địa chỉ: tổ A, ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

Ngưởi làm chứng: Trần Thanh L1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 31/01/2024, ông Trần Thanh L1 là người chạy xe ôm được bị cáo Đỗ Chí H1 thuê chở từ cầu P đi đến trạm xe P thuộc khu vực ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Khi đến nơi, bị cáo H1 trả tiền xe cho ông L1 bằng tờ tiền giả mệnh giá 200.000 đồng, ông L1 phát hiện nên đã trình báo Công an xã B. Qua kiểm tra, phát hiện thu giữ trong người của bị cáo H1 có 7.600.000 đồng tiền giả (gồm 11 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 11 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng) và bị cáo H1 thừa nhận số tiền giả bị thu giữ mua của các bị cáo Huỳnh Nhựt T1 và Huỳnh Bé T3 tại chợ V thuộc khu vực khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang để lưu hành nên Công an xã B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo H1.

Cùng ngày, các bị cáo Nhựt T1 và Bé T3 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú, khai nhận số tiền giả thu giữ của bị cáo H1 là do bị cáo Võ À M bán cho cả hai để bán lại cho bị cáo H1; đồng thời bị cáo Nhựt T1 đã tự nguyện giao nộp số tiền giả là 8.000.000 đồng (gồm 12 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 08 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) và bị cáo Bé T1 đã tự nguyện giao nộp số tiền giả là 30.040.000 đồng (gồm 56 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 07 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 14 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành bắt, khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Võ À M tại số nhà B, tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang, phát hiện thu giữ 63.800.000 đồng tiền giả (gồm 99 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 58 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 27 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), nhiều tờ tiền giả còn trong khuôn chưa được cắt, máy scan và máy ép nhựa dùng để làm tiền giả.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 01/2024, thông qua mạng xã hội T6, bị cáo Võ À M liên lạc với Phạm Minh T5 (sử dụng tài khoản “Pham-Tu90”) để hỏi mua 70.000.000 đồng tiền giả loại mệnh giá 500.000 đồng, với giá 3.000.000 đồng tiền thật. Số tiền giả mua của T5, bị cáo M sử dụng tài khoản Facebook “Katu To” để đăng bán, cụ thể:

  • + Nguyễn Minh H3 sử dụng tài khoản Facebook “Bảo Ngọc” liên hệ mua 14.000.000 đồng tiền giả với giá 3.000.000 đồng tiền thật để lưu hành.
  • + Bị cáo Huỳnh Nhựt T1 mua 56.000.000 đồng tiền giả với giá 10.000.000 đồng tiền thật, đã trả cho bị cáo M 8.000.000 đồng, còn nợ lại 2.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo Nhựt T1 bán cho 01 người nam khoảng 28 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh được 15.000.000 đồng tiền giả, với giá 5.000.000 đồng tiền thật, cho thêm 3.000.000 đồng tiền giả; bán cho 01 người nam tại thành phố Hồ Chí Minh được 9.000.000 đồng tiền giả với giá 3.000.000 đồng tiền thật; bán cho 01 người nam tại tỉnh Đồng Nai được 12.000.000 đồng tiền giả với giá 4.000.000 đồng tiền thật, cho thêm 8.000.000 đồng tiền giả, còn lại

9.000.000 đồng tiền giả do chất lượng xấu nên bị cáo Nhựt T1 đã tiêu hủy.

Thấy việc bán tiền giả thu lợi cao nên bị cáo M liên hệ T5 hỏi cách thức làm tiền giả. Theo sự hướng dẫn của T5, bị cáo M đặt mua 01 máy in màu loại EPSON L4260 để làm tiền giả và đã in ra được hơn 60.000.000 đồng tiền giả. Ngày 26/01/2024, bị cáo M gửi địa chỉ nơi bán máy cán màng tại thành phố Hồ Chí Minh cho bị cáo Nhựt T1 và kêu bị cáo Nhựt T1 mua máy đem về cho bị cáo M để làm tiền giả và hứa sẽ bán 10.000.000 đồng tiền giả với giá 1.000.000 đồng tiền thật thì bị cáo Nhựt T1 đồng ý. Ngày 28/01/2024, bị cáo Nhựt T1 kêu bị cáo Bé T1 cùng đi đến huyện C, tỉnh An Giang để gặp bị cáo M mua tiền giả, trên đường đi bị cáo Nhựt T1 kêu bị cáo Bé T3 ghé vào cửa hàng tại thành phố Hồ Chí Minh để mua máy cán màng theo yêu cầu của bị cáo M, nhưng không nói cho bị cáo B1 T3 biết mục đích làm gì. Sau đó, các bị cáo Nhựt T1 và Bé T3 mang máy cán màng đến giao cho bị cáo M, rồi đến thuê phòng trọ số 5 của nhà T tại huyện C để ở lại, chờ bị cáo M giao tiền giả. Ngày 29/01/2024, bị cáo M làm ra 74.040.000 đồng tiền giả và đã bán cho bị cáo Nhựt T1 theo như thỏa thuận, sau khi nhận tiền giả, bị cáo Nhựt T1 mang về phòng trọ để kiểm đếm. Ngày 30/01/2024, bị cáo M giới thiệu Nguyễn Minh H3 liên lạc qua tài khoản zalo “Thư Huỳnh”của bị cáo Nhựt T1 để đặt mua 28.000.000 đồng tiền giả, bị cáo Nhựt T1 hẹn H3 giao tiền tại cầu V, rồi kêu bị cáo B1 T1 điều khiển xe chở đến điểm hẹn giao 28.000.000 đồng tiền giả và lấy 5.000.000 đồng tiền thật.

Đến sáng ngày 30/01/2024, bị cáo Nhựt T1 liên hệ với bị cáo M hỏi mua thêm tiền giả nhưng không nói số lượng, bị cáo M nói làm không kịp nên bị cáo Nhựt T1 kêu đưa tiền giả để cắt phụ cho bị cáo M. Sau đó, bị cáo M in tiền giả bằng các tờ giấy A4 rồi mang đến nhà trọ đưa cho bị cáo Nhựt T1 để cắt lỗ bông sen, bị cáo Nhựt T1 chờ bị cáo Bé T3 ngủ thì đem tiền ra cắt theo hướng dẫn của bị cáo M, sau khi cắt xong bị cáo Nhựt T1 đưa lại tiền giả cho bị cáo M để ép màng, cắt thành phẩm để bán cho bị cáo Nhựt T1.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo M tiếp tục giới thiệu bị cáo Đỗ Chí H1 liên hệ với bị cáo Nhựt T1 để mua 8.000.000 đồng tiền giả loại mệnh giá 200.000 đồng thì được bị cáo Nhựt T1 hẹn giao tiền tại chợ V. Đến khoảng 01 giờ ngày 31/01/2024, bị cáo H1 đi xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh đến điểm hẹn, lúc này bị cáo Bé T1 điều khiển xe mô tô biển số 69K1–239.25 chở bị cáo Nhựt T1 cầm theo bọc để 8.000.000 đồng tiền giả loại mệnh giá 200.000 đồng giao cho bị cáo H1 và lấy 2.000.000 đồng tiền thật. Sau đó, bị cáo H1 sử dụng 01 tờ tiền giả mệnh giá 200.000 đồng để mua bánh của bà Nguyễn Thị Lệ H2, với giá 10.000 đồng, được bà H2 trả lại tiền thừa là 190.000 đồng; sử dụng 01 tờ tiền giả mệnh giá 200.000 đồng để mua thuốc lá của bà Huỳnh Thị Hồng L, với giá 40.000 đồng, được bà L trả lại tiền thừa là 160.000 đồng và sử dụng 01 tờ tiền giả mệnh giá 200.000 đồng để trả tiền thuê xe ôm cho ông Trần Thanh L1

thì bị phát hiện bắt quả tang như nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại kết luận giám định số 174/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A xác định: 320 tờ tiền Việt Nam mẫu cần giám định là tiền giả.

Vật chứng thu giữ gồm:

Của bị cáo Võ À M: Tiền giả 63.800.000 đồng; 01 phong bì giấy bên trong có 05 mảnh giấy A4; 01 biên nhận cầm đồ ngày 27/12/2023; 01 máy ép nhựa nhãn hiệu FM3510; 01 máy Scan màu; 01 bóp da màu đen (bên trong có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy đứng tên Võ À M; 01 thẻ ATM; tiền thật 5.347.000 đồng); 01 xe mô tô biển số 67D2-178.37, nhãn hiệu Yamaha Exciter; 01 cây dao cán đỏ; 03 cây kéo, 03 cây dao, 01 bản đen (bể một phần); 01 thước kẻ bằng nhựạ; 07 lưỡi lam hiệu BJC; 01 lưỡi lam; 01 bật lửa; 01 gói thuốc JET, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A34; 58 tờ mệnh giá 500.000 đồng chưa thành phẩm; 12 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng chưa thành phẩm; 02 mệnh giá 100.000 đồng chưa thành phẩm; 01 cuộn màn nhựa màu trắng; 01 cuộn màn nhựa; 01 phong bì bên trong có 3.800.000 đồng dùng để làm phôi.

Của bị cáo Huỳnh Nhựt T1: Tiền giả 8.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22 màu tím.

Của bị cáo Huỳnh Bé T3: Tiền giả 30.040.000 đồng; 07 lưỡi lam; 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1808 màu đen; 01 xe mô tô biển số 69K1-239.25 (do bà Võ Kim H đứng tên chủ sở hữu).

Của bị cáo Đỗ Chí H1: Tiền giả 7.600.000 đồng; 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo màu xanh.

Tại Cáo trạng số: 06/CT-VKSAG-P1 ngày 10/01/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Võ À M, Huỳnh Nhựt T1, về tội “Làm, lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 3 Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 về tội “Lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Võ À M, Huỳnh Nhựt T1, Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Bị hại bà Nguyễn Thị Lệ H2, Huỳnh Thị Hồng L; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Minh T5, Nguyễn Minh H3; người làm chứng Trần Thanh L1, vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Kim H có mặt,

yêu cầu được nhận lại xe mô tô và có lời khai phù hợp nội dung cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 3 Điều 207; điểm s, r, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ À M từ 12 năm đến 13 năm tù về tội “Làm, lưu hành tiền giả”. Áp dụng khoản 3 Điều 207; điểm s, r, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Nhựt Thư T7 07 năm đến 08 năm tù về tội “Làm, lưu hành tiền giả”. Áp dụng khoản 2 Điều 207; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh B1 Thư từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả”. Áp dụng khoản 2 Điều 207; điểm s, t khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Chí H1 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả”.

Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: xử lý vật chứng theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo Võ À M và người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Nhựt T1 đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử các bị cáo Võ À M, Huỳnh Nhựt T1 về tội “Làm, lưu hành tiền giả” theo khoản 3 Điều 207 Bộ luật Hình sự; thống nhất áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, r, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 (Nhựt Thư được áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự) đối với các bị cáo Võ À M và Huỳnh Nhựt T1. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Võ À M mức hình phạt bằng mức khởi điểm của khung hình phạt; bị cáo Huỳnh Nhựt T1 mức hình phạt thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị để tạo điều kiện cho các bị cáo Võ À M và Huỳnh Nhựt T1 sửa chữa lỗi lầm.

Các bị cáo Võ À M, Huỳnh Nhựt T1 đồng ý bản luận cứ bào chữa, đồng thời Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 không bào chữa hoặc hoặc tranh luận bổ sung gì khác. Lời nói cuối cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề

nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, bị hại bà Nguyễn Thị Lệ H2, bà Huỳnh Thị Hồng L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Minh T5, anh Nguyễn Minh H3 và người làm chứng Trần Thanh L2 đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 01 đến ngày 31/01/2024, tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh An Giang, các bị cáo Võ À M, Huỳnh Nhựt T1 đã có hành đã có hành vi làm, lưu hành tiền giả và Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 đã có hành vi lưu hành tiền giả loại mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng để thu lợi. Trong đó, bị cáo Võ À M làm, mua bán tiền giả 02 lần trở lên, với số lượng tiền giả phải chịu trách nhiệm là 207.840.000 đồng; bị cáo Huỳnh Nhựt T1 mua bán tiền giả 02 lần trở lên và giúp sức cho bị cáo Võ À M làm tiền giả, với số lượng tiền giả phải chịu trách nhiệm là 184.840.000 đồng; bị cáo Huỳnh Bé T3 vai trò đồng phạm giúp sức Huỳnh Nhựt T1 mua bán tiền giả 02 lần trở lên, với số lượng tiền giả phải chịu trách nhiệm là 36.000.000 đồng. Bị

cáo Đỗ Chí H1 mua và lưu hành tiền giả 02 lần trở lên với số lượng tiền giả phải chịu trách nhiệm là 8.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Võ À M, Huỳnh Nhựt T1, về tội “Làm, lưu hành tiền giả”; Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 về tội “Lưu hành tiền giả”. Tội phạm và hình phạt đối với các bị cáo Võ À M, Huỳnh Nhựt T1 được quy định tại khoản 3 Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân; các bị cáo Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 được quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý tài chính của Nhà nước thông qua việc phát hành tiền tệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi làm, lưu hành tiền giả là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mục đích thu lợi bất chính. Trong vụ án này, bị cáo Võ À M là chủ mưu cầm đầu nên phải chịu trách nhiệm chính của vụ án; các bị cáo Huỳnh Nhựt T1, Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 là đồng phạm đã thực hành tội phạm tích cực; riêng bị cáo Huỳnh Nhựt T1 là đồng phạm giúp sức tích cực để bị cáo M làm tiền giả. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Võ À M, Huỳnh Nhựt T1, Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 đã thực hiện tội phạm nhiều lần nên phải chịu tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; đã tích tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo H1 lập công chuộc tội (Công văn số 382/DN-ANĐT ngày 08/11/2024 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A); ngoài hành vi bị phát hiện các bị cáo M, Nhựt T1 tự thú về hành vi làm tiền giả trước đó; các bị cáo Nhựt T1, Bé T1 đầu thú về hành vi lưu hành tiền giả đồng thời có thân nhân là liệt sĩ; 04 bị cáo có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, thuộc thành phần lao đông, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự được quy định tại các điểm s, điểm r, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy: Bị cáo Võ À M là chủ mưu cầm đầu và trực tiếp thực hiện tội phạm tích cực nhiều lần, phạm tội thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, do đó cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung; mức hình phạt trên khởi điểm của khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các bị cáo Huỳnh Nhựt T1, Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 đều phạm tội nhiều lần, phạm tội thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng (trong đó bị cáo Nhựt T1 đã giúp sức bị cáo M làm tiền giả). Do đó cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điếu 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề đối với các bị cáo Nhựt T1, Bé T3 và H1 mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vấn đề liên quan:

- Nguyễn Minh H3, có hành vi mua 28.000.000 đồng tiền giả của Huỳnh Nhựt T1 và 14.000.000 đồng tiền giả của Võ À M. Ngày 10/4/2024, H3 bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T khởi tố, tạm giam về tội “Làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả” trong vụ án khác; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A có công văn gửi Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T để phối hợp điều tra, làm

rõ và xử lý theo quy định là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Tài khoản telegram "Pham_Tu90” do Phạm Minh T5 đăng ký và sử dụng, qua điều tra T5 không thừa nhận bán tiền giả cho bị can Võ À M; ngoài lời khai của M không còn chứng cứ nào khác để chứng minh. Ngày 29/01/2024, T5 bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B khởi tố, tạm giam về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả” trong vụ án khác; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A có công văn gửi Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B để phối hợp điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Bị cáo Huỳnh Nhựt T1 khai đã bán 47.000.000 đồng tiền giả cho 03 đối tượng lạ mặt tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai. Qua điều tra, không xác định được rõ nhân thân, lai lịch của những người này nên chưa đủ cơ sở xử lý, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau là đúng pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 207 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Võ À M là cần thiết, cần phạt bổ sung bị cáo M một khoản tiền 20.000.000đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với các bị cáo Huỳnh Nhựt T1, Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 do không có nghề nghiệp, tài sản và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình thuộc diện khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người liên quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 320 tờ tiền giả đã thu giữ (phong bì 1, 2, 3, 4); 01 phong bì giấy bên trong có 05 mảnh giấy A4; 07 lưỡi lam hiệu BIC; 01 máy ép nhựa nhãn hiệu FM3510; 01 máy Scan màu; 01 bóp da màu đen; 01 con dao cán đỏ; 03 cây kéo, 01 con dao; 02 dao rọc giấy, 01 bảng đen (bể một phần); 01 thước kẻ bằng nhựạ; 01 lưỡi lam; 01 gói thuốc hút hiệu JET; 01 bật lửa; 02 cuộn màng nhựa; 58 tờ mệnh giá 500.000 đồng chưa thành phẩm; 12 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng chưa thành phẩm; 02 tờ tiền giả mệnh giá 100.000 đồng chưa thành phẩm; không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 phong bì bên trong có tiền Việt Nam 3.800.000 đồng dùng để làm phôi in tiền giả; Tiền Việt Nam 5.347.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 67D2-178.37 (01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy đứng tên Võ À M); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A34; 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo 1808 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung

Galaxy A22 màu tím; 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo màu xanh. đây là phương tiện các bị cáo và người liên quan đã sử dụng làm phương tiện để phạm tội nên cần tịch thu bán phát mãi sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô biển số 69K1-239.25 do bà Võ Kim H chủ sở hữu, bà H không biết Bé T3 sử dụng để tiêu thụ tiền giả nên giao trả lại cho bà H.

Giao trả cho bị cáo Võ À M 01 thẻ ATM do không liên quan đến việc phạm tội.

Buộc bị cáo Võ À M giao nộp số tiền 18.500.000 đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

[9] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Võ À M, Huỳnh Nhựt T1 phạm tội “Làm, lưu hành tiền giả”; các bị cáo Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 phạm tội “Lưu hành tiền giả”.

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 207; điểm s, điểm r, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ À M 13 (Mười ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 31/01/2024).
  2. Căn cứ khoản 3 Điều 207; điểm s, điểm r, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Nhựt T1 07 (B2) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 31/01/2024).
  3. Căn cứ khoản 2 Điều 207; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Bé T3 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 31/01/2024).
  4. Căn cứ khoản 2 Điều 207; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đỗ Chí H1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 31/01/2024)

Căn cứ Điều 35; khoản 5 Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạt bổ sung bị cáo Võ À M số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ Điều 47; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 320 tờ tiền giả đã thu giữ (phong bì 1, 2, 3, 4); 01 phong bì giấy bên trong có 05 mảnh giấy A4; 07 lưỡi lam hiệu BIC; 01 máy ép nhựa nhãn hiệu FM3510; 01 máy Scan màu; 01 bóp da màu đen; 01 con dao cán đỏ; 03 cây kéo, 01 con dao; 02 dao rọc giấy, 01 bảng đen (bể một phần); 01 thước kẻ bằng nhựạ; 01 lưỡi lam; 01 gói thuốc hút hiệu JET; 01 bật lửa; 02 cuộn màng nhựa; 58 tờ mệnh giá 500.000 đồng chưa thành phẩm; 12 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng chưa thành phẩm; 02 tờ tiền giả mệnh giá 100.000 đồng chưa thành phẩm.

Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 67D2-178.37 (01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy đứng tên Võ À M); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A34; 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo 1808 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22 màu tím; 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo màu xanh.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam 5.347.000 đồng; 01 phong bì bên trong có tiền Việt Nam 3.800.000 đồng dùng để làm phôi in tiền giả.

Giao trả cho bà Võ Kim H 01 (Một) xe mô tô biển số 69K1-239.25, nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen.

Giao trả cho bị cáo Võ À M 01 (Một) thẻ ATM

(Đặc điểm tang vật như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh A với Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, ngày 06/11/2024).

Buộc bị cáo Võ À M giao nộp số tiền 18.500.000 (Mười tám triệu năm trăm nghìn) đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Võ À M, Huỳnh Nhựt T1, Huỳnh Bé T3, Đỗ Chí H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cục thi hành án An Giang;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã nơi bị cáo hưởng án treo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về làm, lưu hành tiền giả

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm, lưu hành tiền giả
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Làm lưu hành tiền giả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger