Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 11 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lưu Đình Tuý và bà Nguyễn Thị Minh Thảo.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hoá tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên trung cấp và ông Cao Văn S - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Thọ Đ, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2000, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: thôn Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; căn cước công dân số: [...], cấp ngày: 09/5/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thọ C và bà Lê Thị X; vợ là Trần Thị B và có 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

Bị hại: Ông Trần Quang B1, sinh năm: 1964; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

Người tham gia tố tụng khác: ông Ngô Quang K, sinh năm: 1986; căn cước công dân số: [...] - là Điều tra viên trung cấp thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2024, Nguyễn Thọ Đ, sinh năm 2000, trú tại thôn Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa vào Bình Dương để làm công nhân. Sau đó Đ sang khu vực tỉnh Bavet, nước Campuchia làm nhân viên tại các quán karaoke. Tại đây, Đ quen T, sinh năm 1989, quê ở tỉnh Hải Dương (không xác định được địa chỉ cụ thể). Đ được T đưa vào tham gia đường dây lừa đảo với hình thức giả danh C1 để lừa đảo công dân Việt Nam lấy tiền, tuy nhiên chưa lừa được ai. Sau khi học được thủ đoạn lừa đảo trên thì đến khoảng tháng 12/2024 Đ trở về Việt Nam và sinh sống tại thôn Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.

Do khi về Việt Nam không có công ăn việc làm ổn định và cần tiền chi tiêu cá nhân nên Đ liên hệ với T qua mạng xã hội Telegram, được T cung cấp số điện thoại 0377.929.xxx của ông Trần Quang B1, sinh năm 1964, ở thôn Đ, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa để Đ thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông B1. Sau đó, Đ sử dụng sim rác số điện thoại 0944.734.xxx gọi điện cho ông B1 và giới thiệu bản thân là Công an đang điều tra ông B1 vì ông B1 có liên quan đến đường dây rửa tiền và yêu cầu ông B1 chuyển tiền cho Đ để không bị xử lý. Với thủ đoạn trên, từ ngày 23/12/2024 đến 11/02/2025 Nguyễn Thọ Đ đã chiếm đoạt số tiền 455.000.000đ của ông B1, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Ngày 23/12/2024, Đ điện thoại cho ông B1 và nói: muốn không bị xử lý thì phải đóng tiền phạt 180.000.000đ, yêu cầu ông B1 mang tiền ra khu vực gần cầu Đ, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa để vào bụi cây cho Đ. Ông B1 đồng ý và thực hiện theo đúng yêu cầu của Đ. Đ đứng cách xa quan sát, thấy ông B1 đã để lại tiền và dời đi thì Đ đi xe máy lại lấy được số tiền 180.000.000đ. Sau khi nhận được tiền, Đ mang về nhờ anh Nguyễn Đăng M, sinh năm 1992, trú tại thôn Y, xã Đ, TP T chuyển vào tài khoản 100.000.000đ để Đ nạp tiền đầu tư tiền ảo, số tiền 80.000.000đ còn lại, Đ sử dụng chi tiêu cá nhân.

- Lần thứ 2: Ngày 27/12/2024, Đ tiếp tục gọi điện cho ông B1 và yêu cầu đưa thêm cho Đ số tiền 50.000.000đ để xử lý hồ sơ vụ án mà ông B1 vi phạm. Lần này Đ hướng dẫn cho ông B1 mang tiền ra để ở gốc cây cột điện cạnh trạm bơm của thôn Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa để ở đó rồi Đ ra lấy. Ông B1 đồng ý và thực hiện theo yêu cầu của Đ. Sau khi nhận được tiền, Đ nhờ anh Nguyễn Đăng M chuyển vào tài khoản của Đ 8.000.0000đ để Đ nạp tiền đầu tư tiền ảo, số tiền 42.000.000đ còn lại Đ sử dụng chi tiêu cá nhân.

- Lần thứ 3: Ngày 15/01/2025, Đ tiếp tục gọi điện với thủ đoạn cũ và yêu cầu ông B1 đưa số tiền 30.000.000đ để tiền tại gốc cây cột điện cạnh trạm bơm của thôn Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa để ở đó rồi Đ ra lấy. Ông B1 đồng ý và thực hiện theo yêu cầu của Đ.

- Lần thứ 4: Ngày 03/02/2025, Đ tiếp tục gọi điện yêu cầu ông B1 đưa số tiền 40.000.000đ để tiền tại gốc cây cột điện cạnh trạm bơm của thôn Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa để ở đó rồi Đ ra lấy. Ông B1 đồng ý và thực hiện theo yêu cầu của Đ.

- Lần thứ 5: Ngày 07/02/2025, Đ tiếp tục điện thoại yêu cầu ông B1 phải đưa thêm số tiền 15.000.000đ để tiếp tục xử lý hồ sơ vụ án để lo cho ông B1 thoát tội. Đ hướng dẫn ông B1 mang tiền ra để tiền tại gốc cây cột điện cạnh trạm bơm của thôn Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa để ở đó rồi Đ ra lấy. Ông B1 đồng ý và thực hiện theo yêu cầu của Đ.

- Lần thứ 6: Ngày 11/02/2025, Đ gọi điện cho ông B1 và nói phải lo thêm 200.000.000đ để kết thúc hồ sơ vụ án thì ông B1 nói không lo đủ 200.000.000đ mà chỉ có thể lo được 140.000.000đ. Đ tiếp tục hướng dẫn cho ông B1 mang tiền ra vị trí ở khu tái định cư, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 11h00', Đ đứng cách xa quan sát thấy ông B1 đã mang tiền ra vị trí Đ chỉ rồi đi về thì Đ đi xe máy lại lấy số tiền trên. Khi vừa cầm được túi tiền thì Công an đến nên Đ bỏ chạy và bị khống chế rồi đưa về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Đ xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đối với người có tên là T, sinh năm 1989, quê ở tỉnh Hải Dương. Do không xác định được địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở điều tra, xác minh.

* Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • Số tiền 140.000.000đ. Ngày 15/4/2025 Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền này cho ông B1.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát: 36B7-545.16 là xe Đ sử dụng đi lấy số tiền lừa đảo được của ông B1. Quá trình điều tra, xác định: xe máy này của anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 2000, ở phố N, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa. Chiếc xe được Nguyễn Thọ Đ mượn của anh T1 để đi. Khi mượn Đ không cho anh T1 biết mục đích sử dụng đi nhận tiền lừa đảo của ông B1. Tra cứu hệ thống xe vật chứng không có thông tin trên hệ thống vật chứng nên ngày 16/4/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy này cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Duy T1.
  • 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng và 01 điện thoại Iphone 15 Promax (là 02 điện thoại Đ sử dụng gọi điện giả danh công an chiếm đoạt tài sản của ông B1).

* Kết quả giám định: Ngày 19/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T khôi phục dữ liệu tin nhắn có liên quan trong 01 điện thoại di động Iphone 11 đã thu giữ trên. Ngày 26/4/2025, Phòng K2 Công an tỉnh T có kết luật giám định số 1457/KL-KTHS, kết luận: Tìm thấy 244 cuộc gọi, 1287 tin nhắn mesenger; 14620 tin nhắn Zalo trong điện thoại gửi giám định- Kèm theo 01 tệp Phuluc.rar có dung lượng 252 MB lưu trong 01 USB.

* Trách nhiệm dân sự: Ngày 17/3/2025, gia đình Nguyễn Thọ Đ đã tự nguyện khắc phục cho ông Trần Quang B1 số tiền 170.000.000đ. Ngày 15/4/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả cho ông B1 số tiền 140.000.000 đồng. Ngày 20/9/2025 đại diện gia đình bị cáo đã trả hết cho ông B1 số tiền 145.000.000 đồng. Tổng số tiền ông B1 đã nhận 455.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 03/CT-VKS-P2 ngày 06 tháng 10 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Thọ Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thọ Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại ông Trần Quang B1, tại phiên toà ông B1 thừa nhận đã nhận của đại diện gia đình bị cáo là 315.000.000 đồng. Riêng số tiền 140.000.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T thu giữ chưa trả cho ông.

Người tham gia tố tụng khác ông Ngô Quang K trình bày số tiền 140.000.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh thu giữ của bị cáo đã trả cho bị hại ông Trần Quang B1 vào ngày 15/4/2025, ông B1 đã nhận đủ số tiền trên và ký vào biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu (bút lục số 100).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thọ Đ từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Về vật chứng: Tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động. Về trách nhiệm dân sự: bị hại Trần Quang B1 khai chưa được nhận số tiền 140.000.000đ từ cơ quan điều tra. Lời khai của ông B1 không có cơ sở chấp nhận, vì: tại Biên bản trả lại tài sản ngày 15/4/2025 ông B1 đã ký nhận lại số tiền 140.000.000 từ cơ quan điều tra; tại Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ngày 20/9/2025, do ông B1 viết nội dung: đã nhận đủ số tiền 445.000.000đ. Công nhận gia đình bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 315.000.000 đồng cho ông B1. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại và người tham, gia tố tụng khác không có ý kiền và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thọ Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Do không có công ăn việc làm ổn định, cần tiền chi tiêu cá nhân, Nguyễn Thọ Đ đã sử dụng sim rác, điện thoại cho ông Trần Quang B1 và đưa ra thông tin gian dối: bản thân là cán bộ Công an, đang điều tra ông B1 vì liên quan đến đường dây rửa tiền; Đ yêu cầu ông B1 chuyển tiền cho Đ để không bị xử lý. Trong khoảng thời gian từ ngày 23/12/2024 đến 11/02/2025 Đ đã nhiều lần (6 lần) yêu cầu ông B1 đưa tiền cho Đ với tổng số tiền 455.000.000đ bằng cách yêu cầu ông B1 đem tiền ra để ở địa điểm thuận lợi (khu vực gần cầu Đ, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; gốc cây cột điện cạnh trạm bơm của thôn Y, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; khu tái định cư, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa). Khi ông B1 đem tiền ra địa điểm do Đ yêu cầu thì Đ đứng xa quan sát, thấy ông B1 đã để tiền lại và rời đi thì Đ đi lại địa điểm trên lấy tiền.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thọ Đ đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 07 năm đến 15 năm tù.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mục đích chiếm đoạt cá nhân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội hai lần trở lên, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; đầu thú; tích cực động viên gia đình bồi thường thiệt hại và gia đình có công với cách mạng. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ; về tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ là do bị cáo sử dụng để liên lạc vào việc phạm tội, nên cần tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 315.000.000 đồng giữa gia đình bị cáo và bị hại đã giao nhận đủ và không có ý kiến thắc mắc gì, cần được công nhận các bên đã bồi thường xong.

Riêng số tiền 140.000.000 đồng tại phiên toà ông B1 khai chưa nhận được số tiền này từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh.Tại phiên toà, người tham gia tố tụng khác ông Nguyễn Quang K1 - Điều tra viên khẳng định số tiền 140.000.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh thu giữ của bị cáo đã được trả cho bị hại ông Trần Quang B1 vào ngày 15/4/2025, ông B1 đã nhận đủ số tiền trên và ký vào biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu (bút lục số 100). Quá trình làm rõ tại phiên toà, ông B1 thừa nhận đã ký vào Biên bản trả lại tài sản ngày 15/4/2025 và ông B1 có viết Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ngày 20/9/2025, trong đơn có nội dung: đã nhận đủ số tiền 445.000.000đ. Do đó, đại diện Viện kiểm có quan điểm: lời khai của ông B1 về việc chưa được nhận lại số tiền 140.000.000đ từ Cơ quan điều tra là không có cơ sở chấp nhận.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thọ Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thọ Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/02/2025.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã giải quyết xong, nên không xem xét giải quyết.

- Về vật chứng: Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo Nguyễn Thọ Đ (đặc điểm tang vật như Biên bản giao, nhận vật chứng số 13/2026/KV1 ngày 30/10/2025 giữa Phòng PC 02 - Công an tỉnh T với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thanh Hoá.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thọ Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 1 - Thanh Hoá;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Văn phòng CSĐT CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Phòng HS nghiệp vụ CA tỉnh TH;
  • - Thi hành án DS tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger