|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 05 - 03 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khanh
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khổng Đăng Hải
- Ông Trần Thanh
- - Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phan Tường Linh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28/02/2025 và ngày 05/03/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Anh N, Sinh ngày: 10/8/1993; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Anh D (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1968; Vợ: Tô Thị Lan A, sinh năm: 1994; Con: có; 03 con (lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- + Tại Quyết định số 30 ngày 25/12/2007, Công an phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Anh N về hành vi đánh nhau, hình thức phạt cảnh cáo.
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 34 ngày 08/8/2014, Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt N 6.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong khoản tiền phạt và tiền án phí HSST xong ngày 24/11/2014.
- + Tại Quyết định số 188 ngày 20/10/2017, Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Anh N về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 3.000.000 đồng, N đã chấp hành khoản tiền phạt này ngày 16/11/2017.
- + Tại Quyết định số 08 ngày 13/4/2018, UBND phường Â1, thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Anh N về hành vi có lời nói xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, gây mất trật tự trụ sở, cơ quan, quay phim chụp ảnh khu vực cấm; hình thức: phạt tiền, mức phạt: 1.400.000 đồng; N chấp hành xong khoản tiền phạt ngày 20/4/2018.
- + Tại Quyết định số 108 ngày 23/4/2018, Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Anh N về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 2.500.000 đồng, N đã chấp hành khoản tiền phạt này ngày 23/4/2018.
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33 ngày 01/8/2018, Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt N 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” và phạt bổ sung 20.000.000 đồng; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2018; chấp hành xong khoản tiền phạt bổ sung và tiền án phí HSST xong ngày 22/02/2019.
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 74 ngày 28/11/2018, Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt N 25 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” cộng 06 tháng tù tại bản án số 33 ngày 01/8/2018 của Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ chưa chấp hành xong, buộc N phải chấp hành 25 tháng 04 ngày tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/7/2020; Chấp hành xong khoản tiền phạt và tiền án phí HSST xong ngày 21/01/2019.
- + Tại Quyết định số 246 ngày 05/10/2020, Công an phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Anh N về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 2.000.000 đồng, N chưa chấp hành khoản tiền phạt này và đến ngày 15/10/2020 N bị khởi tố, bắt tạm giam về hành vi Đánh bạc.
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15 ngày 23/4/2021, Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt N 06 tháng 09 ngày tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/10/2020, Trả tự do ngay tại phiên toà. Chấp hành xong khoản án phí HSST ngày 21/6/2021.
- + Tại Quyết định số 162 ngày 21/11/2022, Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Anh N về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 6.500.000 đồng, N chưa chấp hành khoản tiền phạt này, trong hồ sơ có tài liệu đôn đốc nộp phạt nhưng không tổ chức cưỡng chế thi hành.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Tô Thị Lan A, sinh năm 1994. Địa chỉ: KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 22/01/2024, Trần Hoài L, sinh năm 1998, trú tại khu dân cư T, phường H, thị xã P (thường gọi là L “cận”) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MG5, màu trắng, biển số 19A-535.09 chở Hoàng Tiến D1, sinh năm 1998, trú tại khu V, xã V, thị xã P (thường gọi là D1 “Mẩu”) đến quán Karaoke R do anh Hà Thanh T, sinh năm: 1991, trú tại khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ làm chủ, để uống bia, hát karaoke cùng với anh Trần Văn C, sinh năm 1998, trú tại khu A, xã P, thị xã P (thường gọi là C “tám”). Lúc này, tại quán K2, ngoài anh C, còn có Nguyễn Anh T1, sinh năm 1991, trú tại khu dân cư T, phường Â, thị xã P (thường gọi là T1 “bờm”), Nguyễn Anh N, sinh năm 1993, trú tại khu dân cư N, phường Â, thị xã P (thường gọi là N “Pow”), Trần Ngọc A1, sinh năm 1991, trú tại khu dân cư P, phường P, thị xã P (thường gọi là Cu A2), Phan Trương C1, sinh năm 2005, trú tại khu C, xã L, huyện T (thường gọi là C1 “môi” hoặc Chi “PT”) và một số người bạn khác không rõ tên tuổi, địa chỉ. Do say rượu nên Trần Ngọc A1 gọi điện thoại cho Trần Huy H1, sinh năm 2002, trú tại khu dân cư C, xã T, thị xã P (thường gọi là H1 “lợn”) đến đón. Trần Huy H1 đồng ý và rủ thêm Lê Đức L1, sinh năm 2002, trú tại khu H, xã H, thị xã P đi cùng. H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer (không rõ BKS) đi trước còn Lê Đức L1 điều khiển xe đạp điện đi sau. Khi L “cận” chở D1 “mẩu” đến nơi thì gặp N “pow” đi ra. Do có quen biết từ trước nên N nhờ L “cận” chở về; L “cận” đồng ý điều khiển xe ô tô chở N và Trần Ngọc A1 về còn để D1 “mẩu” ở lại quán. Quá trình hát tại quán, giữa T1 “bờm” và Trần Đức C2, sinh năm 1996, trú tại khu H, xã H, thị xã P (thường gọi là C2 “con”) cũng là khách đến hát đã xảy ra mâu thuẫn, xô xát đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn nên không có hậu quả. Sau đó, C2 “con” tiếp tục đi ra sân, chửi bới T1; thì D1 “mẩu” vừa đi đến nghĩ C2 “con” chửi mình nên đã dùng tay đấm một cái vào mặt của C2 “con”. Bực tức vì bị D1 “mẩu” đấm, C2 “con” gọi điện cho Nguyễn Văn T2, sinh năm 2001, trú tại khu D, xã T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (thường gọi là T2 “bi”) đến để nhờ T2 “bi” giúp. Cùng lúc này, tại nhà trọ của T2 “bi” thuê ở khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ còn có bạn là Nguyễn Minh Q, sinh năm 2001, trú tại xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ (thường gọi là Q “cỏ”) nên T2 “bi” rủ Q “cỏ” đi cùng; đồng thời gọi điện thoại cho Hoàng Công L2, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc rủ L2 đi đánh nhau giúp C2 “con”. Tại thời điểm T2 “bi” gọi điện, Hoàng Công L2 đang ở quán B thuộc khu D, xã P, thị xã P cùng Trần H2, sinh năm 2000, trú tại khu F, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Trần Văn V, sinh ngày 16/6/2006, Dương Phi L3, sinh ngày 20/01/2006, Trương Trung K, sinh ngày 09/2/2007, Lê Văn H3, sinh năm 2005, Hoàng Trọng L4, sinh năm 2003 đều trú tại xã V, thị xã P; Nguyễn Đan T3, sinh năm 2004, trú tại xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (thường gọi là T3 “trề”); Đặng Thanh T4, sinh ngày 17/10/2006, trú tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (thường gọi là T4 “Bin”) đều là bạn quen biết nhau và biết T4 “bị” từ trước nên tất cả đều đồng ý cùng nhau đi giúp C2 “con”. T3 “trề” điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (không rõ BKS) chở H2; K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA wave (không rõ BKS) chở V cầm theo dao quắm; H3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA wave, màu trắng, biển số 19M1-266.07 của H3 chở L3; L4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA wave, màu đen, biển số 19M1-266.49 chở T4 “bin” cầm theo dao (dạng phớ) và L2 cầm theo chuôi gậy bi-a; đi theo đường H đến quán K2. Q “cỏ” điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA wave, màu trắng chở T4 “Bi” cầm theo một chiếc phóng lợn, dài khoảng 02 mét và hai chiếc kiếm dài khoảng 01 mét đi đến quán K2.
Thấy C2 “con” gọi người đến để đánh nhau nên T1 “bờm” gọi điện thoại cho N “pow” quay lại, D1 “mẩu” cũng gọi điện thoại cho L2 “cận”, Lê Xuân S, sinh năm 1998, trú tại khu P, xã H, thị xã P (thường gọi là Sáng “lê”) đến. Sau khi nhận được thông tin trên, L2 “cận” điều khiển xe ô tô biển số 19A-535.09 (bên trong xe có 03 chiếc gậy bóng chày) chở N “pow” và Trần Ngọc A1 quay lại quán K2. Khi dừng xe ở trên đường H dưới gầm cầu H thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, L2 “cận” giao lại xe ô tô cho N “pow” và cầm một chiếc gậy bóng chày chạy bộ vào trong quán K2; Lê Xuân S đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, màu đen (không rõ BKS) của S, bên trong cốp xe để một con dao bằng kim loại, dài khoảng 25cm và trên tay S cầm một chiếc đao dài khoảng 80cm đến quán K2.
Khi K chở V đến quán K2 thì gặp T1 “bờm” đang đứng ở cửa, T1 thấy V cầm dao quắm đến nên thách thức đánh nhau, V cầm dao quắm lao đến chém T1 nhưng được những người có mặt ở đây can ngăn nên không chém được. L2 “cận” chạy vào kéo D1 “mẩu” chạy bộ ra đường H còn Sáng “lê” đến nơi thấy xảy ra xô sát nhưng đã được can ngăn nên giấu chiếc đao trong bụi cây trước cửa quán, rồi điều khiển xe mô tô đến quán K3 thuộc xã H, thị xã P ngồi chơi. Phan Trương C1 thấy L2 “cận” bỏ đi nên đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng (không rõ BKS) phóng theo. Cùng lúc này T3 “trề” chở H2; H3 chở L3; L4 chở Đặng Thanh T4 vào quán karaoke R còn Hoàng Công L2 đứng ở gầm cầu H. T3 “trề”, T4 “bin” đập vỏ chai bia xuống sân để khiêu khích đánh nhau nhưng được H2 và những người ở đó can ngăn. Do thấy C1 “môi”, L2 “cận”, D1 “mẩu” cầm theo gậy bóng chày chạy ra ngoài đường nên K, V, T4 “bin”, L4, T3 “trề” đuổi theo. T3 “trề” chở H2 ra đến gầm cầu H thì xe mô tô của T3 “trề” bị hỏng nên T3 đã giấu chiếc xe ở gầm cầu. H3 chở T4 “bin” ra đến gầm cầu H thì dừng lại đứng ở gầm cầu cùng Hoàng Công L2, T3 “trề” và H2. T4 “bin” tiếp tục điều khiển xe cùng V, K, L4, L3 dồn theo C1 “môi”, L2 “cận” và D1 “mẩu” về phía khách sạn H5 thuộc xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Lúc này, Q “cỏ” chở T4 “bi” đi đến gầm cầu H thì L2 nói cho biết nhóm của L2 “cận” bỏ chạy về phía trung tâm thị xã P, T4 “bi” đưa cho Hoàng Công L2 một chiếc kiếm rồi Q “cỏ” tiếp tục chở T4 “bi” và T3 “trề” đi về hướng trung tâm thị xã P để tìm nhóm L2 “cận”, trên đường đi T4 “bi” đưa cho T3 “trề” chiếc phóng lợn. Lúc này, C1 “môi” điều khiển xe mô tô đến gần đầu ngõ vào khách sạn H5 thì gặp L2 “cận”, D1 “mẩu” đang chạy bộ nên dừng xe lại. Đồng thời nhóm của V cũng dồn đến thì L2 “cận” giấu chiếc gậy bóng chày đang cầm và cùng C1 “môi”, D1 “mẩu” đi ra gặp nhóm của V. Nhóm của L2 “cận” nói với nhóm của V là “người nhà”. Nhóm của V nghĩ nhóm của L2 “cận” cũng đến giúp C2 “con” nên hai bên không đánh nhau mà V cho C1 “môi” đi cùng về hướng trung tâm thị xã P để tìm nhóm mâu thuẫn với C2 “con”.
Do không tìm được nên khi đi đến ngã tư đền T5 thuộc xã V, thị xã P thì nhóm của V quay lại quán K2. Trên đường đi, C1 “môi” cầm con dao quắm của V và xuống xe ngang đường. Còn nhóm của V tiếp tục đi về quán K2. Nhóm Q “cỏ” không tìm được nhóm L2 “cận” nên cũng quay lại quán K2. Khi nhóm của V quay lại gầm cầu H thì L2 điều khiển xe mô tô của H3 chở T4 “bin” đi vào trong quán K2, còn H3, H2 đứng ở gầm cầu H không tham gia đánh nhau.
Sau khi L2 “cận” giao lại xe ô tô nhưng không thấy quay lại nên N cùng Trần Ngọc A1 đi vào trong quán K2 thì gặp T1 “bờm”, Trần Ngọc A1 say rượu nên ngồi ở trong quán không tham gia đánh nhau còn N và T1 “bờm” lao đến đánh nhau với C2 “con”, Q “cỏ”, T3 “trề”, T4 “bin”, T4 “bi”, K, V, L4, L3, L2. Q “cỏ” nhặt gạch ném về phía N nhưng không trúng; V cầm phóng lợn chém về phía T1 “bờm” nhưng T1 “bờm” bỏ chạy vào trong quán, C2 “con” giằng lấy phóng lợn của V để đánh nhau thì V nhặt gạch ném về phía N nhưng không trúng; T4 “bin” cầm vỏ chai bia bằng thủy tinh ở quán ném xuống sân thì bị chủ quán hát giằng lấy con dao T4 “bin” đang cầm trên tay. T4 “bin” tiếp tục nhặt gạch ném nhóm N và lao vào dùng tay đấm vào mặt N; Hoàng Công L2 lấy bát sứ (loại bát ăn cơm) trong quán ném về phía N; L4 lao đến dùng tay đấm N; L3 nhặt gạch ném nhóm của N. T1 “bờm” bị dồn đánh nên chạy vào trong quán còn N chạy vào trong bếp của quán, giằng chiếc kiếm của T4 “bi” nhưng không được, sau đó N nhặt đoạn sắt ở nền quán đánh lại nhóm C2 “con”. Lúc này Trần Huy H1 cũng đi xe mô tô đến quán K2 đón Trần Ngọc A1 nhưng thấy đánh nhau nên đứng ngoài xem. Nhóm của C2 “con” nghe thấy có người nói “công an đến” nên nhóm C2 “con” bỏ ra ngoài đường. T1 “bờm” nhặt gạch ném về phía nhóm C2 “con”, rồi tiếp tục nhặt một con dao quắm cùng N “pow” dồn theo thì bị nhóm C2 “con” nhặt gạch ném lại. Sau đó nhóm C2 “con” đi trên 03 xe mô tô đi về quán bia của C2 “con” thuộc xã H, thị xã P, H3 cũng đi theo về quán bia, còn Trần H2 đi bộ ra đường và đi nhờ người dân về quán B-a X9 trước. Khi đến nơi, Hoàng Công L2 và H3 ở lại quán bia, những người còn lại đi về quán bi-a X9.
Lúc này, nhóm của N đứng ở đường H dưới gầm cầu H gồm N “pow”, L2 “cận”, T1 “bờm”, D1 “mẩu”, Trần Ngọc A1, H1 “lợn”, C “tám”, Lê Đức L1. L2 “cận” gọi điện cho C1 “môi” đi đón Sáng “lê” còn bản thân điều khiển xe ô tô đi đón Trần Tuấn D2, sinh năm 1993, trú tại khu N, xã H, thị xã P (thường gọi là D2 “phó họ”) theo yêu cầu của N “pow”. Sau khi được N “pow” gọi điện nhờ đến đánh nhau thì D2 “phó họ” gọi điện thoại cho Trần Quốc M, sinh năm 2000, trú tại khu V, xã V, thị xã P rủ đi đánh nhau cùng và bảo M đến phòng trọ của D2 ở khu L, xã H, thị xã P lấy hung khí. Lúc này, M đang đi cùng Bùi Thái D3, sinh năm 2005 và Bùi Trung K1, sinh năm 2002 đều trú tại khu N, xã H, thị xã P nên mở loa ngoài cho D3 và K1 cùng nghe thì D3 và K1 đều đồng ý đi đánh nhau giúp N “pow”. Kết điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision (không rõ BKS) chở M và D3 đi về phòng trọ của D2 “phó họ”. Khi đến nơi, K1 lấy hai con dao quắm trong đó một chiếc có phần lưỡi dao giống lưỡi liềm, hai chiếc tuýp sắt, một chiếc kiếm có vỏ bao bằng gỗ màu nâu đựng trong túi tải. Sau đó, K1 điều khiển xe mô tô chở D3 và M đến gặp nhóm của N và để bao tải đựng hung khí ở lề đường cạnh chỗ nhóm của N đứng. Trong khoảng thời gian này, C1 “môi” đến quán K3 thì gặp S “lê” và Ngô Quốc V1, sinh năm 2007, trú tại xã V, thị xã P (thường gọi là V1 “mùi”). Do xe mô tô của C1 “môi” sử dụng sắp hết xăng nên V1 đã chở C1 “môi” và Sáng “lê” đến gầm cầu H để mang xe mô tô quay lại quán MTP giúp C1 “môi”. Sáng “lê” giấu con dao lúc trước để trong cốp xe vào trong áo đang mặc. Sau khi đến tập trung cùng nhóm của N thì C1 “môi” hỏi S “lê” về chiếc đao lúc trước C1 nhìn thấy S cầm đến thì được S chỉ vị trí đã cất giấu. Chi “môi” lấy chiếc đao mang ra, rồi N “pow” cầm chiếc đao này
Một lúc sau, L2 “cận” chở D2 “phó họ” đến, L2 “cận” đưa cho D2 “mẩu” một chiếc gậy bóng chày, D2 “phó họ” cầm một chiếc tuýp sắt, M lấy một chiếc dao quắm và chiếc kiếm trong túi tải K1 mang theo cầm ở tay, Dương cầm chiếc dao quắm dạng liềm còn C1 “môi” cầm dao quắm. L2 “cận” điều khiển xe ô tô biển số 19A-535.09 chở N “pow” cầm theo chiếc đao; T1 “bờm” cầm theo một chiếc dao quắm; D2 “mẩu” cầm gậy bóng chày còn S cầm theo dao. Kết điều khiển xe mô tô chở M và D3. H1 “lợn” điều khiển xe mô tô chở D2 “phó họ” và C1 “môi”. Còn Trần Ngọc A1, L1, V1, C “tám” không tham gia đánh nhau nên đi về. Nhóm của N “pow” đi đến nhà trọ của Q “cỏ” thuộc khu A, xã P, thị xã P để tìm nhóm của C2 “con” tiếp tục đánh nhau.
Sau khi về đến quán B, K và L1 đi đến nhà trọ của Q “cỏ” lấy thêm 04 tuýp sắt mang đến quán B để chuẩn bị đánh nhau. Q “cỏ” bảo V đi xe mô tô theo hướng về trung tâm thị xã; T4 “bin” và L4 đi về hướng xã P, huyện P để tìm nhóm của N “pow” báo lại cho Q biết. Khi đi T4 “bin” và L4 chở theo 01 két bia bên trong có nhiều vỏ chai thủy tinh đi qua nhà trọ của Q “cỏ” thì gặp nhóm của N đi đến nhưng nghĩ là cùng nhóm nên đi theo. Khi đến gần cổng nhà trọ thì bất ngờ bị D2 “phó họ” cầm tuýp sắt và C1 “môi” cầm theo dao quắm xuống xe chạy bộ về phía xe của T4 “bin” chở L4 đi đến. Thấy vậy T4 “bin” điều khiển xe quay lại thì bị C1 “môi” dùng dao quắm chém vào người L4. T4 “bin” và L4 bỏ chạy nên đã vứt bỏ két vỏ chai bia trên đường rồi T4 “bin” đưa L4 đi sơ cứu vết thương tại Trung tâm y tế huyện P. Sau khi không tìm được nhóm C2 “con” tại nhà trọ thì nhóm N tiếp tục đi đến quán B.
Trong lúc này, tại quán B có C2 “con”, L1, K, Q “cỏ”, T3 “trề”, T4 “bi”, H2, Lò Văn Đ, sinh năm 2003 và Lý Văn H4, sinh năm 2005 nhà đều ở huyện S, tỉnh Lai Châu (là em vợ của Trần Đức C2). H2, Đ và H4 không tham gia đánh nhau nên đứng ở trong quán B-a còn C2 “con”, L1, K, Q “cỏ”, T3 “trề”, T4 “bi” đã chuẩn bị kiếm, gạch, đá, tuýp sắt, dao phóng lợn có cán dài tụ tập tại đầu ngõ gần quán B để chuẩn bị đánh nhau với nhóm của N “pow”. C2 “con” cầm kiếm, T3 “trề”, T4 “bi”, K và L1 mỗi người cầm một chiếc tuýp sắt, Q “cỏ” nhặt gạch xếp thành đống và cầm chiếc cuốc, sau đó để chiếc cuốc ở lề đường. Khi nhóm của N “pow” quay lại quán bi-a X9 thì thấy nhóm của C2 “con” tập trung trên ngõ nên L2 “cận” điều khiển xe ô tô biển số 19A-535.09 đến gặp nhóm của C2 “con”. Thấy vậy, K sử dụng tuýp sắt đập vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô và đập vào thành xe phía bên ghế lái. T4 “bi” nhặt gạch ném vào ô tô, dùng tuýp sắt đập vào nắp ca pô, thành xe ô tô bên ghế lái và đập vào kính chắn gió phía sau làm kính bị vỡ. L2 “cận” điều khiển xe ô tô lùi lại để quay đầu thì K nhặt gạch ở đường ném trúng vào cánh cửa phía sau bên ghế lái. L1 dùng tuýp sắt đập vào nắp ca pô và đập 1 cái dọc theo thành xe bên ghế phụ. T4 “bi” tiếp tục dùng tuýp sắt chọc vào thành xe bên lái. K dùng tuýp sắt đập vào cốp xe ô tô làm cốp xe mở ra. T3 “trề” dùng tuýp sắt đập vào thành xe bên ghế phụ. Q “cỏ” nhặt hai viên gạch ném trúng vào xe ô tô. L2 “cận” điều khiển xe đi xuống đường Hùng Vương hướng về trung tâm thị xã P thì nhóm của T4 “bi” tiếp tục dồn theo. Nhật “pow”, T1 “bờm” xuống xe cầm hung khí dồn đuổi lại. C2 “con” chạy lên đầu ngõ tay cầm kiếm và nhặt chiếc cuốc của Q “cỏ” lúc trước để ở đường. T4 “bi” cũng cầm tuýp sắt chạy lên đầu ngõ. N “pow” cầm chiếc đao đi đến thì C2 “con” quăng kiếm và cuốc về phía N đồng thời bỏ chạy. Cùng lúc này T1 “bờm” cầm dao quắm lao đến dồn đuổi theo C2 “con” còn N “pow” dồn theo T4 “bi” chạy về cuối ngõ. L2 “cận” điều khiển xe đi quay lại đầu ngõ thì D2 “mẩu” xuống xe, cùng lúc này xe mô tô do H1 và K1 điều khiển đi đến. D2 “phó họ”, C1 “môi”, M, cùng D2 “mẩu” cầm hung khí dồn đuổi nhóm của C2 “con”. Kết chở D3 sang phía bên kia đường thì dừng lại và cầm hung khí lao đến để đánh nhau. H1 điều khiển xe mô tô sang đứng bên đường đối diện. D2 “phó họ” cầm tuýp sắt, D2 “mẩu” cầm gậy bóng chày, M đưa chiếc kiếm cho K1 và đưa dao quắm cho C1 “môi” cầm, Dương cầm liềm, M nhặt gạch. L2 “cận” điều khiển xe ô tô lao đến đầu ngõ thì va vào D2 “phó họ” làm D2 “phó họ” bị ngã ra đường nhưng không để lại thương tích gì. Khi thấy N dồn đuổi theo T4 “bi” về cuối ngõ thì M cầm gạch đuổi theo ném nhưng không trúng do T4 “bi” bỏ chạy thoát được. Nhóm N “pow” dồn đuổi Q “cỏ” chạy vào trong quán B, trong quán bi-a lúc này không có điện. Khi thấy 02 nhóm dồn đuổi đánh nhau và có tiếng hò hét thì H2, H4 và Đinh hoảng S1, H2 trốn vào nhà vệ sinh trong phòng ngủ còn Đ và H4 chạy ra phía bếp và trèo qua bờ rào thoát ra ngoài. Ở phía trước cửa quán, hai nhóm sử dụng quả bi-a, gạch đá ném và chửi bới, hò hét thách thức đánh nhau. Sau đó, Q “cỏ” bỏ chạy thoát ra phía sau quán. Nhóm N “pow” đi vào trong quán thì C1 “môi” phát hiện Trần H2 đang trốn trong nhà vệ sinh nên đã chém 1 cái về phía Trần H2 nhưng không biết trúng hay không. Trần Hưng C3 đầu bỏ chạy ra ngoài thì bị nhóm của N “pow” chém gây thương tích vùng gáy, vùng chẩm trái, vùng đỉnh phải nhưng không xác định ai gây ra. Sau đó, H2 bỏ chạy thoát được ra ngoài cửa quán thì bị K1 cầm chiếc kiếm có vỏ bằng gỗ dồn theo đập 02 cái vào người, đồng thời Dương cầm liềm đuổi theo. Khi ra đến cửa quán H2 bị ngã, Dương cầm liềm đập phần sống liềm vào người H2 một cái, rồi H2 đứng dậy chạy thoát được. Nhóm của N tiếp tục quay lại nhà trọ của Q “cỏ” để tìm nhóm của C2 “con” nhưng không thấy nên bỏ về.
Hậu quả:
- + Trần Đức C2 bị Nguyễn Anh T1 dùng dao quắm chém rách da chảy máu ở mặt sau vai phải và trong quá trình đồn đuổi đánh nhau bị 01 vết thương xước da ở mặt trước trong cẳng tay trái không xác định được do ai gây ra. Sau đó, C2 đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P.
- + Phan Trương C1 bị Trương Trung K sử dụng tuýp sắt đập vào tay dẫn đến gãy xương đốt IV bàn tay phải. Chi đến Bệnh viện đa khoa thị xã P khám và bó bột cố định xương tay nhưng không điều trị tại Bệnh viện.
- + Hoàng Trọng L4 bị Phan Trương C1 sử dụng dao quắm chém rách da dài khoảng 5cm ở trước đỉnh đầu. L4 đến Trung tâm y tế huyện P sơ cứu vết thương nhưng không điều trị tại Trung tâm y tế.
- + Nguyễn Anh N bị 01 vết thương ở vùng trán phải, rách da chảy máu, kích thước 2 cm x 3 cm; 01 vết bầm tím, xát da rớm máu ở vùng trán trái; 01 vết thương rách da chảy máu kích thước 01cm ở cằm; Gãy xương đốt I ngón 3 và đốt bàn ngón 5 bàn tay phải, N không xác định được do ai gây ra.
- + Trần H2 bị vết thương kích thước 10 cm x 01 cm x 01 cm, bờ mép sắc gọn ở vùng gáy. Vùng chẩm lệch trái có 01 vết thương rách da chảy máu kích thước 5cm x 1cm, sâu sát xương và 01 vết thương rách da nhỏ kích thước 2 cm x 0,5cm sưng nề nhẹ, có tụ máu dưới da đầu, vết thương có bờ mép nham nhở. Vùng đỉnh phải có vết thương rách da, chảy máu, kích thước 3cm x 1cm, sau sát xương, vết thương có bờ mép nham nhở. Gối trái có vết thương rách da dài khoảng 2cm, xung quanh có nhiều vết xây sát sưng nề rớm máu, hạn chế vận động. Gối phải có vết xây sát da không chảy máu, sưng nề nhẹ.
- + Nguyễn Anh T1 bị 01 vết xước da rớm máu kích thước 01 cm trên đỉnh đầu; 01 vết xước da dài 0,5cm ở nếp lằn trong khuỷu tay phải, T1 không xác định được do ai gây ra.
- + Xe ô tô biển số 19A-535.09 bị hư hỏng cụ thể: gẫy vỡ gương chiếu hậu bên trái, vỡ kính chắn gió phía trước, thân xe có nhiều vết lõm, xước sơn.
- + Quán B bị vỡ hỏng 08 (tám) ô kính, loại kính trắng 01 lớp, dày 04mm. Quán K2 không bị hư hỏng gì nhưng hoạt động kinh doanh của quán bị ảnh hưởng.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) viên gạch không rõ hình dạng gạch lục giác, kích thước 20cm x 10cm x 5cm; 01 (một) viên gạch, dạng gạch chỉ màu đỏ, kích thước 10cm x 12cm x 5,5cm; 01 (một) viên gạch, kích thước 12cm x 8cm x 6,5cm; 01 (một) viên gạch, kích thước 9cm x 11cm x 5,5cm; 01 (một) viên gạch kích thước 21,5 cm x 10 cm x 5,5 cm; 13 (mười ba) đoạn gậy gỗ, dạng gậy bi-a và một số mảnh kính vỡ có kích thước khác nhau; 03 (ba) gậy bóng chày, màu đen có chữ “BAT” có kích thước dài bằng nhau là 69 cm, đường kính rộng nhất là 05cm; 01 (một) thanh kim loại dạng kiếm có một lưỡi sắc, dài 70cm, lưỡi sắc dài 46,5cm, cán được quấn dây dù màu đen, chỉ đỏ; 01 (một) con dao quắm dài 59cm có một lưỡi sắc, phần lưỡi dài 18cm, rộng nhất 13cm, phần cán bị cong móp; 01 (một) con dao dài 32cm, có một lưỡi sắc dài 21,5cm, bản rộng nhất là 3cm; 01 (một) ống kim loại dài 1,5m, đường kính 3,5cm; 01 (một) gậy tre dài dài 1,2 m, đường kính 4 cm. Ngoài ra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P còn tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc tại quán K2 thuộc xã H, thị xã P và nhà trọ của Nguyễn Minh Q thuộc khu A, xã P, thị xã P, quá trình xác định hiện trường không thu giữ đồ vật gì.
Quá trình giải quyết, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P nhận được nhiều phản ánh chính quyền, đoàn thể xã H, thị xã P, chính quyền đoàn thể xã P, thị xã P, của quần chúng nhân dân, của Ban Q1 về việc: sự việc xảy ra đã gây mất tình hình an ninh trật tự của địa phương gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Nội dung phản ánh của quần chúng nhân dân và các tổ chức trên địa bàn đều tỏ rõ sự lo lắng, bất an, hoang mang lo sợ ảnh hưởng đến sức khỏe, tài sản, hoạt động bình thường của các cá nhân, tổ chức và đề nghị cơ quan điều tra xác minh xử lý nghiêm vụ việc trên góp phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn.
Ngày 27/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trưng cầu hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của UBND thị xã P định giá xác định giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô biển số 19A-535.09 và 08 ô kính của của quán B bị hư hỏng. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/ KL-HĐĐG ngày 07/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã P kết luận: Giá trị thiệt hại của 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MG, số loại MG5, màu trắng, số khung: MMLA36U35NG019490, số máy: 15S4C5QTN4070036, biển số 19A-535.09 là 28.850.000 đồng (Hai mươi tám triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Giá trị thiệt hại 08 ô kính, loại kính trắng 01 lớp, dày 04mm là 1.480.000 đồng (Một triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).
Ngày 08/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trưng cầu Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh P giám định tính chất thương tích và mức độ tổn hại sức khỏe của Trần Đức C2, Phan Trương C1, Hoàng Trọng L4, Trần H2. Đối với Nguyễn Anh N do bỏ trốn nên chưa Trưng cầu giám định thương tích; Nguyễn Anh T1 bị thương tích nhẹ, không đi điều trị tại cơ sở y tế nào, có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu đề nghị gì. Tại các bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Trung tâm pháp y, Sở ý tế tỉnh Phú Thọ gồm: Bản kết luận số 59 ngày 10/4/2024 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Đức C2 là 03% (Ba phần trăm); Bản kết luận số 61 ngày10/4/2024 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Trương C1 là 06% (Sáu phần trăm); Bản kết luận số 60 ngày 10/4/2024 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Trọng L4 là 01 % (một phần trăm). Đối với Trần H2 đã có đơn từ chối giám định thương tích. Ngày 15/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P ra Quyết định dẫn giải đối với Trần H2 đưa đi giám định, tuy nhiên Trần H2 không chấp hành việc giám định thương tích nêu trên. Ngay sau khi nhận kết quả giám định thì Trần Đức C2, Phan Trương C1, Hoàng Trọng L4 đã có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự, việc Trần Đức C2, Phan Trương C1, Hoàng Trọng L4 không đề nghị là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc.
Xét thấy việc nhóm của Nguyễn Anh T1 và nhóm của Trần Đức C2 mâu thuẫn với nhau tại quán K2 là đơn giản nhưng các đối tượng đã lôi kéo, tụ tập nhiều đối tượng khác mang theo hung khí, phương tiện để dồn đuổi đánh nhau trên nhiều địa bàn xã, ở nhiều khu vực khác nhau, xảy ra tại các cửa hàng, các quán kinh doanh. Đồng thời các đối tượng truy đuổi nhau, hò hét, chửi bới, đập phá tài sản với giá trị lớn, gây thương tích cho nhau, diễn ra trong khoảng thời gian dài, trên dọc các tuyến đường có nhiều hộ dân sinh sống. Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm dồn đuổi đánh nhau tại nhiều nơi trên những đoạn đường quốc lộ, tuyến đường huyết mạch của thị xã P dẫn vào khu công nghiệp có nhiều Công ty hiện đang đầu tư kinh doanh thể hiện hành vi của các đối tượng manh động, côn đồ, coi thường pháp luật, hành vi của các đối tượng đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người tham gia giao thông, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị tại xã H, xã P, thị xã P nói riêng và địa bàn thị xã P nói chung, gây tâm lý hoang mang lo lắng, bức xúc trong quần chúng nhân dân, các cơ quan, tổ chức trên địa bàn, nhiều đối tượng bị thương tích, nhiều tài sản bị hư hỏng, trong đó, chiếc xe ô tô BKS 19A-535.09 bị thiệt hại 28.850.000 đồng.
Ngày 01/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Anh N; Phan Trương C1; Trần Hoài L; Hoàng Tiến D1; Lê Xuân S; Nguyễn Anh T1; Trần Đức C2; Trương Trung K; Dương Phi L3; Hoàng Trọng L4; Nguyễn Minh Q; Đặng Thanh T4; Trần Văn V, về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 318 BLHS. Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã thi hành được Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Phan Trương C1; Trần Hoài L; Hoàng Tiến D1; Lê Xuân S; Nguyễn Anh T1; Trần Đức C2; Trương Trung K; Dương Phi L3; Hoàng Trọng L4; Nguyễn Minh Q; Đặng Thanh T4; Trần Văn V còn Nguyễn Anh N bỏ trốn chưa truy bắt được.
Ngày 28/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1, điều 178 BLHS; Quyết định khởi tố bị can, đối với Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đan T3, về tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, đồng thời ra Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Văn T2, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Đan T3; Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Tuấn D2 và Hoàng Công L2 về tội “Gây rối trật tự công cộng”, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Tuấn D2. Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can, đối với Trương Trung K, Dương Phi L3 và Nguyễn Minh Q, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã thi hành Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Văn T2 còn Nguyễn Đan T3 và Trần Tuấn D2 đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 22/3/2024, Nguyễn Văn T2 và Hoàng Công L2 đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đầu thú.
Đối với Trần Quốc M, Bùi Trung K1, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 12/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã truy tìm được Trần Quốc M và Bùi Trung K1 khi đang lẩn trốn tại xã D, huyện Y, tỉnh Hà Giang để làm việc, đồng thời làm rõ hành vi phạm tội của Bùi Thái D3. Ngày 13/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Quốc M; Bùi Thái D3 và Bùi Trung K1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 318 BLHS.
Đối với Trần Huy H1 đã đi khỏi nơi cư trú sau khi xảy ra sự việc. Đến ngày 24/5/2024, H1 đến Công an thị xã P đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Ngày 31/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Trần Huy H1 về tội “Gây rối trật tự cộng cộng” quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 318 BLHS.
Ngày 28/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã bắt được bị can Trần Tuấn D2 khi đang lẩn trốn tại phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Qua đấu tranh Trần Tuấn D2 đã trình bày trong khoảng thời gian tháng 6 và tháng 7 năm 2024, thì Trần Tuấn D2 và Nguyễn Anh N lẩn trốn cùng nhau tại các tỉnh miền N. Quá trình lẩn trốn D2 đã nhiều lần có ý định về đầu thú nhưng bị N xúi dục, ngăn cản không cho về đầu thú. Sau đó đã xảy ra cãi nhau nên Nguyễn Anh N đã bỏ trốn đi nơi khác. Ngày 09/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã thi hành được lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Đan T3.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Anh N, Phan Trương C1, Trần Hoài L, Hoàng Tiến D1, Lê Xuân S, Nguyễn Anh T1, Trần Đức C2, Trương Trung K, Dương Phi L3, Hoàng Trọng L4, Nguyễn Minh Q, Đặng Thanh T4, Trần Văn V, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đan T3, Trần Tuấn D2, Hoàng Công L2, Trần Quốc M, Bùi Trung K1, Bùi Thái D3, Trần Huy H1 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên, lời khai của các bị can phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã tạm giữ được 02 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đen, biển số 19M1- 266.49 của Hoàng Trọng L4 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn xanh, đen, biển số 1981 - 390.18 của Trần H2. Đối với chiếc xe mô tô của Trần Huy H1, Nguyễn Đan T3, Trương Trung K, Nguyễn Minh Q, Phan Trương C1, Lê Văn H3 sử dụng trong quá trình dồn đuổi đánh nhau và các điện thoại di động các đối tượng sử dụng gọi cho nhau để rủ đánh nhau. Cơ quan điều tra chưa xác định được hiện đang ở đâu do đó không tạm giữ được.
Đối với thiệt hại 08 ô cửa kính, loại kính trắng 01 lớp, dày 04mm, trị giá là 1.480.000 đồng, quá trình điều tra không xác định được ai là người gây ra; bản thân Nguyễn Văn T2 là chủ quán không có yêu cầu đề nghị gì nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không có cơ sở xem xét xử lý.
Đối với Trần Văn C, Trần Ngọc A1, Lê Đức L1, Trần H2, Lê Văn H3, Ngô Quốc V1 đều có mặt tại hiện trường nơi xảy ra sự việc, tuy nhiên không tham gia dồn đuổi đánh nhau và không có hành vi vi phạm pháp luật do đó Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không xử lý.
Ngày 29/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đã ban hành Cáo trạng số 67 truy tố ra trước Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ để xét xử bị can Trương Trung K, Dương Phi L3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đan T3 và Nguyễn Minh Q về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS và tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 BLHS; bị can Nguyễn Anh T1, Trần Đức C2, Phan Trương C1, Trần Hoài L, Hoàng Tiến D1, Lê Xuân S, Hoàng Trọng L4, Đặng Thanh T4, Trần Văn V, Trần Tuấn D2, Hoàng Công L2, Trần Quốc M, Bùi Trung K1, Bùi Thái D3, Trần Huy H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 BLHS
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 72 ngày 30/11/2024, Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt Nguyễn Đan T3 42 tháng tù; Nguyễn Minh Q 39 tháng tù; Nguyễn Văn T2 36 tháng tù; Dương Phi L3 30 tháng tù; Trương Trung K 26 tháng tù; đều về 02 tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS và tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 BLHS; Trần Tuấn D2 33 tháng tù; Nguyễn Anh T1, Trần Hoài L, Trần Đức C2, mỗi bị cáo 25 tháng tù; Phan Trương C1, Lê Xuân S, Trần Huy H1, mỗi bị cáo 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; Hoàng Tiến D1, Hoàng Công L2, Trần Quốc M, Bùi Trung K1, Bùi Thái D3, mỗi bị cáo 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; Trần Văn V, Hoàng Trọng L4, Đặng Thanh T4, mỗi bị cáo 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; đều về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 BLHS. Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, bồi thường dân sự và án phí.
Đối với Nguyễn Anh N, sau khi sự việc xảy ra, N đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P làm việc theo lệnh triệu tập và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên nhưng sau đó N bỏ trốn nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không thi hành được Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với N. Ngày 27/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã ra Quyết định truy nã đối với Nguyễn Anh N đồng thời Quyết định tách vụ án hình sự tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Anh N. Đến ngày 06/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã bắt được Nguyễn Anh N khi đang lẩn trốn tại xã L, huyện M, tỉnh Sơn La. Ngày 13/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, phục hồi điều tra bị can đồng thời ra Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Anh N. Quá trình điều tra Nguyễn Anh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đối với thương tích của Nguyễn Anh N đến nay đã hoàn toàn bình phục nên N không có yêu cầu, đề nghị gì đồng thời có đơn từ chối giám định thương tích.
Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSTXPT ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Anh N về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh N từ 39 tháng tù đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thị xã P; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Anh N đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 22/01/2023, tại quán K2 thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa Nguyễn Anh T1 và Trần Đức C2; Nguyễn Anh T1 và Trần Đức C2 đã lôi kéo, tụ tập nhiều đối tượng gồm: Nguyễn Anh N, Phan Trương C1, Trần Hoài L, Hoàng Tiến D1, Lê Xuân S, Trương Trung K, Dương Phi L3, Hoàng Trọng L4, Nguyễn Minh Q, Đặng Thanh T4, Trần Văn V, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đan T3, Trần Tuấn D2, Hoàng Công L2, Trần Quốc M, Bùi Trung K1, Bùi Thái D3 và Trần Huy H1 đã thực hiện hành vi hò hét, chửi bới, mang theo hung khí gậy gỗ, ống tuýp kim loại, dao dài, dao quắm, gạch, cuốc xẻng cùng phương tiện ô tô, xe máy dồn đuổi, đánh nhau, đập phá tài sản có giá trị lớn, trên địa bàn xã H và xã P, thị xã P; tại các cửa hàng, quán kinh doanh ở nhiều khu vực khác nhau, trên tuyến đường quốc lộ và các tuyến đường huyết mạch của thị xã P, tỉnh Phú Thọ dẫn vào Khu công nghiệp có nhiều Công ty đang đầu tư kinh doanh, có lưu lượng phương tiện tham gia giao thông lớn, là nơi công cộng, hai bên đường có nhiều hộ dân sinh sống, hành vi của các đối tượng diễn ra trong khoảng thời gian dài, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Do vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 318 Bộ luật hình sự quy định:
- “1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
- 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách”.
[3] . Đây là vụ án đồng phạm có sự phân hóa hành vi và thuộc trường hợp phạm tội giản đơn, mang tính chất bộc phát, không có tổ chức, phân công từng bị cáo nên các bị cáo đều là người thực hành, cùng thực hiện hành vi. Nguyễn Anh T1, Trần Đức C2, Phan Trương C1, Trần Hoài L, Hoàng Tiến D1, Lê Xuân S, Trương Trung K, Dương Phi L3, Hoàng Trọng L4, Nguyễn Minh Q, Đặng Thanh T4, Trần Văn V, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đan T3, Trần Tuấn D2, Hoàng Công L2, Trần Quốc M, Bùi Trung K1, Bùi Thái D3 và Trần Huy H1 đã bị xử lý theo quy định pháp luật tại bản án hình sự sơ thẩm số 72 ngày 30/11/2024 của Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ. Bị cáo Nguyễn Anh N bỏ trốn, bị truy nã và bị bắt ngày 06/12/2024.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
Về nhân thân: Bị cáo nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội đánh bạc, tội gây rối trật tự công cộng. Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, xâm hại sức khỏe người khác, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ người khác, có lời nói xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, gây mất trật tự trụ sở, cơ quan, quay phim chụp ảnh khu vực cấm, nhân phẩm người khác.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Bị cáo đã tác động đến vợ của bị cáo là chị Tô Thị Lan A ủng hộ quỹ vì người nghèo phường Â, thị xã P nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm, nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về dân sự: Đối với thương tích của bị cáo Nguyễn Anh N đến nay đã hoàn toàn bình phục nên bị cáo N không có yêu cầu, đề nghị gì đồng thời có đơn từ chối giám định thương tích. Nên không đặt ra xem xét là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 72 ngày 30/11/2024, Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ. Nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- + Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh N 39 (Ba mươi chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06/12/2024.
- + Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Anh N.
- Về dân sự: Không.
- Về xử lý vật chứng: Không.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Anh N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khanh |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
