|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 04/03/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Hoàng
- Bà Lê Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Quyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Lê Tuấn P, sinh ngày: 25/12/2001; Tên gọi khác: Quậy; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Vê Văn T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm: không rõ; Vợ, con: Không có; Anh, chị, em: không có.
Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định số 0019263/QĐ-XPHC ngày 26/4/2023 Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng về hành vi Tổ chức đánh bạc (chưa chấp hành đóng phạt).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 28/9/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Võ Văn T1, sinh ngày: 21/3/2003; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Võ Văn H, sinh năm: 1971; Con bà: Hồ Thị T2, sinh năm: 1976; Vợ: Huỳnh Thị Ngọc G, sinh năm 1998; A, chị, em: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2009, bị cáo là con thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến 27/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Trần Quốc A, sinh ngày 13/4/1990; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Trần Văn B (đã chết); Con bà: Hồ Thị V, sinh năm: 1960; Vợ: Nguyễn Thị G1, sinh năm: 1992; Con: Có 03 người, sinh năm: 2011, 2018, 2021; A, chị, em: Có 05 người, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1998, bị cáo là con thứ 3.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến 27/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Đoàn Thanh H1, sinh ngày: 18/9/1989; Nơi sinh: Tỉnh Long An; Nơi thường trú: Khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: Khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đoàn Văn H2, sinh năm: 1965; Con bà: Cao Thị T3, sinh năm: 1963; Vợ: Nguyễn Thị Thanh T4; Con: Có 02 con sinh năm 2012 và 2015; A, chị, em: Có 01 người em, sinh năm 1993
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến 27/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Nguyễn Phúc Đ, sinh ngày: 01/11/1973; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông: Nguyễn Văn X (đã chết); Con bà: Lại Thị L (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm: 1977; Con: Có 03 người, sinh năm: 1998, 2008, 2018; A, chị, em: Không có; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến 27/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Trần Hồng T5, sinh ngày: 11/11/1993; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 256/1 khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Trần Văn B1, sinh năm: 1964; Con bà: Trần Thị Ngọc H4, sinh năm: 1970; Vợ: Nguyễn Ngọc Như M1, sinh năm: 2003; Con: Có 02 người, sinh năm: 2015 và 2023; Anh, chị, em: không có; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến 27/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Võ Thanh B2, sinh ngày: 27/11/1988; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: 2/117 ấp Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Võ Văn Ú, sinh năm: 1963; Con bà: Trần Thị L1, sinh năm: 1964; Vợ: Nguyễn Thị Thanh T6, sinh năm: 1988; Con: Có 03 người, sinh năm: 2012, 2016 và 2019; Anh, chị, em: không có; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến 27/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Phạm Thanh T7, sinh ngày: 22/5/1998; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Phạm Văn Bắc E; sinh năm: 1971; Con bà: Hồ Thị V, sinh năm: 1960; Vợ, con: Không có; Anh, chị, em: có 06 người, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 2003, bị cáo là con thứ 5.
Tiền án: Bản án số 475/2021/HS-PT ngày 09/12/2021 Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm, 06 tháng tù về tội giết người. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2022, chưa chấp hành án phí dân sự, án phí hình sự và nghĩa vụ bồi thường.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến 27/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Nguyễn Minh D (Tên gọi khác: Đục); sinh ngày: 03/5/1982; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: 61/1 Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông: Nguyễn Văn Đ1 (đã chết); Con bà: Đoàn Thị Đ2 (không rõ năm sinh); Vợ: Nguyễn Thị T8; sinh năm: 1989; Con: Có 02 người, sinh năm: 2015 và 2016; A, chị, em: có 05 người, lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1989, bị cáo là con thứ 4.
Bị cáo có bà nội là bà Nguyễn Thị P1 là mẹ Việt Nam anh hùng; có bác ruột là ông Nguyễn Văn N là liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp; Bác ruột Nguyễn Văn H5 có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong chống Mỹ cứu nước được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam huân chương hạng nhì.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số: 1107/HSST ngày 10/6/1999 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 31/5/2005, đã được xóa án tích; Quyết định số 0019279/QĐ-XPHC ngày 26/4/2023 Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 400.000 đồng về hành vi tụ tập gây mất trật tự công cộng. Đã chấp hành đóng phạt ngày 09/5/2023.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Nguyễn Văn X1, sinh ngày: 01/01/1954; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: 305/2 khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: nghỉ hưu; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông: Nguyễn Văn T9 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Q (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1959; Con: Có 03 người, sinh năm 1977, 1980 và 1985; A, chị, em: có 05 người, lớn nhất sinh năm 1933, nhỏ nhất sinh năm 1954, bị cáo là con thứ 5.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Huỳnh Văn G2, sinh ngày: 19/3/1967; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: 228/2 khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông: Huỳnh Văn Q1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N1 (đã chết); Vợ: Trần Thị Đ3, sinh năm: 1966; Con: có 02 người, sinh năm: 1989 và 1998; Anh, chị, em: có 06 người, lớn nhất sinh năm 1967, nhỏ nhất sinh năm 1981, bị cáo là con thứ 1.
Tiền án, tiền sự: Không
* Nhân thân:
+ Quyết định số 0023518/QĐ-XPVPHC ngày 10/01/2018 Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
+ Quyết định số 0029609/QĐ-XPHC ngày 10/4/2021 Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà. -
Lê Văn T10 (Tên gọi khác: Đ4), sinh ngày: 25/6/1984; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: 301/2 khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông: Lê Văn Đ5, sinh năm: không rõ; Con bà: Lê Thị X2, sinh năm: không rõ; Vợ: Phùng Thanh T11, sinh năm: 1990; Con: Có 02 người, sinh năm: 2010 và 2013; Anh, chị, em: có 01 người em, sinh năm 1986
Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định số 04/QĐ-XPHC ngày 04/3/2024 bị Công an thị trấn C xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến 27/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ngọc M2, sinh năm: 1976; địa chỉ: 8 khu phố P, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Thanh H1: Ông Lê Văn L2 - Luật sư của Công ty TNHH T13 thuộc Đoàn luật sư thành phố H (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 17/9/2024, Trần Quốc A tổ chức nhậu ở nhà bà ngoại của Quốc A tại khu phố G, Thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cùng với Phạm Thanh T7, Võ Thanh B2, Đoàn Thanh H1 và một số người khác. Trong lúc nhậu cả nhóm rủ nhau kiếm kèo đá gà thắng thua bằng tiền thì Quốc A, T7, B2, H1 đồng ý. Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày T7 đến quán cà phê gần đó gặp bạn là Võ Văn T1 hỏi có gà cân nặng khoảng 3kg đá xổ số tiền 3.000.000 đồng hay không, Võ Văn T1 điện thoại cho Nguyễn Phúc Đ hỏi thì Đ trả lời có. Sau đó Võ Văn T1 kêu Đ và T7 đem gà ra bãi đất trống thuộc khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời điện thoại cho Lê Tuấn P đem cân, băng keo, cựa sắt đến để cùng tổ chức đá gà. Trong ngày 17/9/2024 Võ Văn T1, Lê Tuấn P đã tổ chức đá gà 02 trận, cụ thể như sau:
Trận thứ 1: Diễn ra khoảng 11 giờ 30 phút, giữa gà bướm, cân nặng 3,1kg của Nguyễn Văn X1 đưa cho Nguyễn Phúc Đ trực tiếp đứng xổ đá với gà xanh cân nặng 3kg của Trần Quốc A. Phía bên gà của Đ do Trần Hồng T5 ôm gà cho Lê Văn T10 quấn cựa, thả gà. Phía bên gà của Trần Quốc A do T7 ôm gà cho B2 quấn cựa, thả gà.
Số tiền đặt cược và tỉ lệ cược như sau: Đá xổ mỗi bên số tiền: 3.000.000 đồng, phía bên gà của Đ chấp phía bên gà của Trần Quốc A đá 10 thắng 9; Tiền đá xổ phía bên gà của Đ gồm: Đ: 500.000 đồng; Xiếu: 2.000.000 đồng; Huỳnh Văn G2: 500.000 đồng. Tiền đá xổ phía bên gà của Trần Quốc A gồm: Trần Quốc A: 1.890.000 đồng, T7: 450.000 đồng, B2: 270.000 đồng, H1: 90.000 đồng.
Trần Hồng T5 tham gia đặt cược đá ngoài phía bên gà của Đ với tỷ lệ gà của Đ chấp 10 thắng 7, do P đứng ra làm biện. Tuy nhiên do không tìm được kèo đá ngoài nên P trực tiếp đứng ra thắng, thua với Trần Hồng T5. Tiền đá ngoài phía bên T5 hùn với T10 là: 500.000 đồng, bên P do một mình bỏ ra 350.000 đồng.
Kết thúc gà của Đ đá thua, Đ đưa cho Võ Văn T1: 3.000.000 đồng, Võ Văn T1 giữ lại 400.000 đồngtiền hưởng lợi, đưa cho Quốc A: 2.600.000 đồng; Trần Hồng T5 đưa cho bị can P: 500.000 đồng.
Trận gà thứ 2: Diễn ra vào khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, giữa gà que, cân nặng 3kg của Trần Hồng T5 đá với gà cú, cân nặng 2,98kg của Trần Quốc A. Phía bên gà của Trần Hồng T5 do Đ ôm gà cho T10 quấn cựa, thả gà. Phía bên gà của Trần Quốc A do T7 ôm gà cho B2 quấn cựa, thả gà.
Số tiền đặt cược và tỉ lệ cược như sau: Đá xổ đồng mỗi bên: 3.000.000 đồng. Bên gà của Trần Hồng T5 những người cá cược gồm: Trần Hồng T5: 900.000 đồng; Lê Văn T10: 500.000 đồng; Nguyễn Phúc Đ: 500.000 đồng; Huỳnh Văn G2: 500.000 đồng; Nguyễn Minh D: 600.000 đồng. Bên gà của Trần Quốc A do Trần Quốc A đứng ra thu tiền gồm: Trần Quốc A: 2.100.000 đồng; Phạm Thanh T7: 500.000 đồng; Võ Thanh B2: 300.000 đồng, Đoàn Thanh H1: 100.000 đồng.
Những người tham gia đá ngoài gồm: Trần Hồng T5, Lê Văn T10 hùn nhau tham gia đặt cược bên gà que 500.000 đồng, (T5 300.000 đồng, T10 200.000 đồng), đá với Phạm Văn T12 đặt cược bên gà cú 500.000 đồng; Trần Ngọc M2 tham gia đặt cược 1.000.000 đồng đá ngoài phía bên gà que đá với Lê Tuấn P tham gia bên gà cú 1.000.000 đồng.
Khi trận gà đang đá thì bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện mời những người có liên quan về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra Lê Tuấn P và Võ Văn T1 khai nhận dự định đứng ra tổ chức các trận đá gà thắng, thua bằng tiền vào dịp lễ hội Nghinh Ông tại huyện C. Tuy nhiên khi tổ chức được 01 ngày 17/9/2024 thì bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Vai trò của Võ Văn T1 là tìm kèo để đá, địa điểm, đứng ra thỏa thuận thỏa thuận số tiền đặt cược, giao nhận tiền thắng thua và đi xung quanh nơi đá gà để canh gác, còn Lê Tuấn P chuẩn bị sẵn cân, băng keo, cựa sắt, đứng ra làm trọng tài đếm thả gà, quyết định thắng thua.
Vật chứng thu giữ:
- - 02 (hai) cặp cựa bằng kim loại; 02 (hai) cuộn băng keo;
- - Tiền Việt Nam: 4.890.000 đồng do Nguyễn Quốc A1 giao nộp. Qua điều tra xác định: 1.890.000 đồng sử dụng để đặt cược trận gà thứ nhất; 3.000.000₫ sử dụng để đặt cược đá xổ trận gà thứ 02, trong đó có: 2.100.000 đồng là của Trần Quốc A; 500.000 đồng của Phạm Thanh T7; 300.000 đồng của Võ Thanh B2; 100.000 đồng của Đoàn Thanh H1;
- - Tiền Vệt Nam: 950.000 đồng do Phạm Thanh T7 giao nộp. Qua điều tra xác định có: 450.000 đồng được dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ nhất, 500.000 đồng dùng đặt cược đá ngoài trận thứ hai.
- - 01 điện thoại di dộng hiệu S Galaxy A23 màu đen đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 650.000 đồng do Nguyễn Phúc Đ giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 650.000 đồng có số tiền: 500.000 đồng dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02, số tiền còn lại: 150.000 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến đá gà; Đối với điện thoại di động được bị can sử dụng để liên lạc đá gà.
- - 01 điện thoại di dộng hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 1.200.000 đồng do Trần Hồng T5 giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 1.200.000 đồng có: 900.000 đồng dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02, còn 300.000 đồng được bị can dùng đặt cược đá ngoài trận gà thứ 02; Đối với điện thoại di động được bị can dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân không liên quan đến đá gà.
- - 01 (một) điện thoại di dộng hiệu MXMID màu đen đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 1.200.000 đồng do Trần Ngọc M2 giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 1.200.000 đồng có số tiền: 1.000.000 đồng dùng đặt cược đá ngoài trận gà thứ 02, số tiền còn lại: 200.000 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến đá gà; Đối với điện thoại di động được M2 dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân không liên quan đến đá gà.
- - 01 (một) điện thoại di dộng hiệu S màu đen đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 600.000 đồng do Nguyễn Minh D giao nộp. Qua điều tra xác định tiền được bị can dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02; Đối với điện thoại di động dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân không liên quan đến đá gà.
- - Tiền Việt Nam: 270.000 đồng do Võ Thanh B2 giao nộp. Đây là tiền B2 dùng để đặt cược đá xổ trận gà thứ nhất
- - Tiền Việt Nam: 500.000 đồng do Huỳnh Văn G2 giao nộp. Đây là tiền G2 dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02
- - T14: 100.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 đã qua sử dụng do Đoàn Thanh H1 giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 100.000 đồng có: 90.000 đồng dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ nhất, số tiền còn lại: 10.000 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến đá gà; Đối với điện thoại di động bị can dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân.
- - Tiền Việt Nam: 700.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng do Lê Văn T10 giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 700.000 đồng có: 500.000 đồng dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02, số tiền: 200.000 đồng dùng đặt cược đá ngoài trận gà thứ 02; Đối với điện thoại di động dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân không liên quan đến đá gà.
- - Tiền Việt Nam: 400.000 đồng do Võ Văn T1 giao nộp. Đây là tiền Tài và P hưởng lợi trong trận gà thứ nhất.
- - Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng không liên quan đến việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Vật chứng có liên quan đến vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giờ để phục vục công tác xét xử và thi hành án.
- - 04 con gà trống đã được tiêu hủy;
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-H.CG ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố bị cáo Lê Tuấn P về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 và tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Võ Văn T1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố các bị cáo Trần Quốc A, Đoàn Thanh H1, Nguyễn Phúc Đ, Trần Hồng T5, Võ Thanh B2, Phạm Thanh T7, Nguyễn Minh D, Nguyễn Văn X1, Huỳnh Văn G2, Lê Văn T10 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Tuấn P 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; 06 đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 03 tháng tù.
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Văn T1 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Thanh T7 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Đánh bạc".
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt các bị cáo Trần Quốc A, Nguyễn Phúc Đ, Võ Thanh B2, Trần Hồng T5, Lê Văn T10, Huỳnh Văn G2 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc".
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 3 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D từ 03 đến 04 tháng tù về tội “Đánh bạc".
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 3 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X1 từ 03 đến 04 tháng tù về tội “Đánh bạc".
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Đoàn Thanh H1 thống nhất về tộ danh và điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố đối với bị cáo. Đồng thời luật sư trình bày các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H1 gồm bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm và trong quá trình giải quyết vụ án, bản thân bị cáo là công an nghĩa vụ đã xuất ngũ; gia đình bị cáo có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tuyên xử cho bị cáo hình phạt tiền với số tiền 20.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Tuấn P, Võ Văn T1 đã có hành vi đứng ra tổ chức đá gà thắng thua bằng tiền 02 trận, tại bãi đất trống thuộc khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh từ khoảng 11 giờ 30 phút đến 12 giờ 30 phút ngày 17 tháng 9 năm 2024. Số người tham gia đánh bạc từ 10 người trở lên, với số tiền đánh bạc mỗi trận 6.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Tuấn P, Võ Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Đối với các bị cáo Nguyễn Phúc Đ, Huỳnh Văn G2, Trần Quốc A, Phạm Văn T12, Võ Thanh B2, Đoàn Thanh H1, Trần Hồng T5, Lê Văn T10 tham gia cá cược 02 trận, mỗi trận số tiền 6.000.000 đồng; Nguyễn Văn X1, Nguyễn Minh D tham gia cá cước 01 trận với số tiền 6.000.000 đồng. Ngoài ra, Lê Tuấn P đã có 01 tiền án sự về hành vi tổ chức đánh bạc, ngày 17/9/2024 phát tham gia các cược ngoài với Trần Ngọc M2 số tiền 2.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trị an tại địa phương; đây là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác; đồng thời gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều gia đình và sự phát triển xã hội. Hơn nữa, hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần xem xét xử lý các bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.
[3] Bị cáo Lê Tuấn P chuẩn bị sẵn cân, băng keo, cựa sắt, đứng ra làm trọng tài đếm thả gà, quyết định thắng thua. Đồng thời bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc nhưng trực tiếp tham gia đánh bạc đá ngoài trong cả 2 trận gà nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 2 tội là Tổ chức đánh bạc, Đánh bạc và phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác.
[4] Bị cáo Võ Văn T1 có vai trò là người tìm kèo để đá, địa điểm, đứng ra thoả thuận số tiền đặt cược, giao nhận tiền thắng thua và đi xung quanh nơi đá gà để canh gác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc, bị cáo có nhân thân tốt nên được hưởng mức hình phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.
[5] Các bị cáo Nguyễn Phúc Đ, Huỳnh Văn G2, Trần Quốc A, Phạm Thanh T7, Võ Thanh B2, Đoàn Thanh H1, Trần Hồng T5, Lê Văn T10 tham gia đánh bạc 02 trận. Vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội là như nhau, tuy nhiên xét về số tiền tham gia, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của mỗi bị cáo khác nhau nên mức hình phạt của mỗi bị cáo khác nhau, trong đó bị cáo Phạm Thanh T7 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhất; bị cáo Lê Văn T10 có tiền sự nên bị áp dụng hình phạt nghiêm khắc; bị cáo Đoàn Thanh H1 là người tham gia với số tiền ít nhất, bị cáo Nguyễn Minh D và Nguyễn Văn X1 là người tham gia một trận gà nên được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn.
[6] Xét lời trình bày của luật sư bào chữa cho bị cáo Đoàn Thanh H1 về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận, riêng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm và trong quá trình giải quyết vụ án là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Tuấn P, Võ Văn T1, Nguyễn Phúc Đ, Huỳnh Văn G2, Trần Quốc A, Phạm Thanh T7, Võ Thanh B2, Đoàn Thanh H1, Trần Hồng T5, Lê Văn T10 phạm tội hai lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Thanh T7 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Huỳnh Văn G2 bản thân đang bị bệnh thiếu máu não, hẹp tắc động mạch vành, thiếu máu cục bộ, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Đoàn Thanh H1 là công an nghĩa vụ đã xuất ngũ, là lao động chính để nuôi các con nhỏ; gia đình bị cáo có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Gia đình bị cáo Nguyễn Minh D có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Nguyễn Văn X1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, là người đủ 70 tuổi, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiếp giảm nhẹ quy định tại điểm i, o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[9] Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, tại khoản 3 Điều 321 và khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định, mức độ thu lợi không lớn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - 02 (hai) cặp cựa bằng kim loại; 02 (hai) cuộn băng keo là vật không có giá trị xét tịch thu, tiêu hủy.
- - Tiền Việt Nam: 4.890.000 đồng do Nguyễn Quốc A1 giao nộp. Qua điều tra xác định: 1.890.000 đồng sử dụng để đặt cược trận gà thứ nhất; 3.000.000₫ sử dụng để đặt cược đá xổ trận gà thứ 02, trong đó có: 2.100.000 đồng là của Trần Quốc A; 500.000 đồng của Phạm Thanh T7; 300.000 đồng của Võ Thanh B2; 100.000 đồng của Đoàn Thanh H1. Xét số tiền trên do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Tiền Việt Nam: 950.000 đồng do Phạm Thanh T7 giao nộp. Qua điều tra xác định có: 450.000 đồng được dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ nhất, 500.000 đồng dùng đặt cược đá ngoài trận thứ hai. Xét số tiền trên do bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - 01 điện thoại di dộng hiệu S Galaxy A23 màu đen đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 650.000 đồng do Nguyễn Phúc Đ giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 650.000 đồng có số tiền: 500.000 đồng dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02, số tiền còn lại: 150.000 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến đá gà. Đối với điện thoại di động được bị cáo sử dụng để liên lạc đá gà. Do đó xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di dộng hiệu S Galaxy A23 màu đen đã qua sử dụng. Số tiền 150.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo Nguyễn Phúc Đ không liên quan đến đá gà nên trả lại cho bị cáo.
- - 01 điện thoại di dộng hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 1.200.000 đồng do Trần Hồng T5 giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 1.200.000 đồng có: 900.000 đồng dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02, còn 300.000 đồng được bị cáo dùng đặt cược đá ngoài trận gà thứ 02 xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với điện thoại di động được bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân không liên quan đến đá gà xét trả lại cho bị cáo.
- - 01 (một) điện thoại di dộng hiệu MXMID màu đen đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 1.200.000 đồng do Trần Ngọc M2 giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 1.200.000 đồng có số tiền: 1.000.000 đồng dùng đặt cược đá ngoài trận gà thứ 02, số tiền còn lại: 200.000 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến đá gà. Do đó xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng. Trả lại cho bị cáo M2 số tiền 200.000 đồng. Đối với điện thoại di động được M2 dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân không liên quan đến đá gà xét trả lại cho bị cáo M2.
- - 01 (một) điện thoại di dộng hiệu S màu đen đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 600.000 đồng do Nguyễn Minh D giao nộp. Qua điều tra xác định tiền được bị cáo dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02 nên xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với điện thoại di động bị cáo D dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân không liên quan đến đá gà nên xét trả lại cho bị cáo D.
- - Tiền Việt Nam: 270.000 đồng do Võ Thanh B2 giao nộp. Đây là tiền B2 dùng để đặt cược đá xổ trận gà thứ nhất xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Tiền Việt Nam: 500.000 đồng do Huỳnh Văn G2 giao nộp. Đây là tiền G2 dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02 xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước
- - Tiền Việt Nam: 100.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 đã qua sử dụng do Đoàn Thanh H1 giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 100.000 đồng có: 90.000 đồng dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ nhất, số tiền còn lại: 10.000 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến đá gà xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 90.000 đồng, trả lại cho bị cáo số tiền 10.000 đồng. Đối với điện thoại di động bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân xét trả lại cho bị cáo H1.
- - Tiền Việt Nam: 700.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng do Lê Văn T10 giao nộp. Qua điều tra xác định trong số tiền: 700.000 đồng có: 500.000 đồng dùng đặt cược đá xổ trận gà thứ 02, số tiền: 200.000 đồng dùng đặt cược đá ngoài trận gà thứ 02 xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước; Đối với điện thoại di động dùng làm phương tiện liên lạc cá nhân không liên quan đến đá gà xét trả lại cho bị cáo T10.
- - Tiền Việt Nam: 400.000 đồng do Võ Văn T1 giao nộp. Đây là tiền Tài và P hưởng lợi trong trận gà thứ nhất xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước
- - 04 con gà trống đã được tiêu hủy nên không xem xét, giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng không liên quan đến việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Vật chứng có liên quan đến vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giờ để phục vục công tác xét xử và thi hành án là đúng quy định pháp luật.
[11] Đối với Trần Ngọc M2 tham gia đá ngoài trong trận thứ hai nhưng số tiền cá cược dưới 5.000.000 đồng, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển xử phạt vị phạm hành chính là phù hợp.
[12] Về án phí: Các bị cáo Lê Tuấn P, Võ Văn T1, Trần Quốc A, Nguyễn Phúc Đ, Đoàn Thanh H1, Trần Hồng T5, Nguyễn Minh D, Võ Thanh B2, Phạm Thanh T7 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định. Riêng các bị cáo Huỳnh Văn G2, Lê Văn T10 thuộc hộ cận nghèo; bị cáo Nguyễn Văn X1 là người già trên 70 tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Tuấn P 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc.
Xử phạt bị cáo Lê Tuấn P 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc.
Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/09/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Võ Văn T1 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đên ngày 27/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T7 10 (mười) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến ngày 27/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Văn T10 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến ngày 27/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Quốc A 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến ngày 27/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Đ 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến ngày 27/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Võ Thanh B2 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến ngày 27/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Hồng T5 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến ngày 27/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn G2 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh H1 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến ngày 27/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn X1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cặp cựa bằng kim loại; 02 (hai) cuộn băng keo.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam: 11.100.000đồng; 01 điện thoại di dộng hiệu S Galaxy A23 màu đen đã qua sử dụng;
-
Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Lê Tuấn P, Võ Văn T1, Nguyễn Phúc Đ, Trần Quốc A, Đoàn Thanh H1, Trần Hồng T5, Võ Thanh B2, Phạm Thanh T7, Nguyễn Minh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giờ.
Các bị cáo Huỳnh Văn G2, Lê Văn T10, Nguyễn Văn X1 được miễn án phí theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Văn X1.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thụ |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức đánh bạc
