Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày: 01-4-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thao
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hội
  • Ông Trần Vân Dũng
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lã Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên tham gia phiên tòa:

Ông Nông Văn Luyện - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 21-02-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 18-3-2025, đối với bị cáo:

  • - Phan Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19-3-2005, tại L, Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn E, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Phan Văn B, sinh năm 1979; con bà: Hoàng Thị Đ, sinh năm 1979; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1998. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: xã T, huyện C, thành phố Hà Nội.
  • + Anh Phạm Huy H, sinh năm 1986. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn T mặc dù không kinh doanh điện thoại vẫn đăng tải các thông tin về việc bán điện thoại Iphone lên mạng xã hội Facabook có tên tài khoản là "Thống Văn A" (sau đổi tên thành “Thong Táo”). Cụ thể, Phạm Văn T2 đăng tải hình ảnh, video điện thoại Iphone lên trang cá nhân và rao bán với giá rẻ hơn thị trường để thu hút người mua. Sau khi có người hỏi mua điện thoại Thống sẽ đưa ra thông tin gian dối về tình trạng máy điện thoại, chế độ bảo hành và gửi các hình ảnh nhằm tạo lòng tin với người mua. Sau khi người mua hàng đồng ý mua điện thoại T2 yêu cầu người mua chuyển tiền đặt cọc mua điện thoại vào số tài khoản ngân hàng 55566868686666 của Thống mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M). Sau khi nhận được tiền của người mua điện thoại T2 chặn mọi liên hệ với người mua và không chuyển điện thoại cho người mua như đã hứa hẹn. Bằng hình thức lừa đảo nêu trên T2 đã chiếm đoạt được tiền của các người mua như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 10-4-2023, anh Nguyễn Đức T1 sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Đức Thuận” đã nhắn tin qua ứng dụng Mesenger vào tài khoản “Thống Văn A” của Phan Văn T hỏi mua chiếc điện thoại di động Iphone 11 promax qua bài viết mà tài khoản facebook của T đăng tải. Thống dùng thủ đoạn gian dối như đã nêu trên để tạo lòng tin với anh T1 và yêu cầu anh T1 chuyển số tiền 4.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của T để mua điện thoại. Do tin tưởng vào thông tin của T đưa ra nên anh T1 chuyển số tiền 4.500.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng của T mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M). Sau khi anh T1 đã chuyển tiền theo yêu cầu của mình, Phan Văn T đã chặn mọi liên hệ với anh T1 và không chuyển điện thoại như đã hứa hẹn.

Lần thứ hai: Ngày 28-06-2023, khi thấy tài khoản Facebook "Thong Táo" của Phan Văn T đăng bán điện thoại di động Iphone 12 bản 128GB mất Face ID nên anh Phạm Huy H đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook "Hoang Pham" nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho T để hỏi mua điện thoại. Quá trình trao đổi mua bán điện thoại di động Thống tự nhận mình là chủ cửa hàng mua bán điện thoại di động tại thị trấn C, quận L, thành phố Hà Nội. Sau khi đưa ra các thông tin gian dối về hiện trạng chiếc điện thoại anh H hỏi mua, T yêu cầu anh H chuyển số tiền 4.000.000 đồng. Do tin tưởng vào thông tin T đưa ra nên anh H đã chuyển số tiền 4.000.000 đồng như T đã yêu cầu vào số tài khoản ngân hàng của T mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M). Sau nhận được tiền của anh H chuyển khoản, T đã chặn mọi liên hệ với anh H và không chuyển điện thoại như đã cam kết.

Ngoài ra Phan Văn T khai nhận cùng với thủ đoạn nêu trên, T còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của một số người khác nhưng T không nhớ cụ thể người mua và số tiền đã chiếm đoạt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Văn T đã bồi thường cho anh Nguyễn Đức T1 số tiền đã chiếm đoạt là 4.500.000 đồng, anh Phạm Huy H không yêu cầu bồi thường gì đối với bị cáo.

Cáo trạng số: 06/CT-VKS-LY ngày 21-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái truy tố Phan Văn T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • + Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
    • + Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 01 năm đến 02 năm tù.
    • + Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Phan Văn T đã có hành vi sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook đăng tải thông tin gian dối về việc bán điện thoại Iphone giá rẻ nhằm tạo lòng tin để chiếm đoạt của anh Nguyễn Đức T1 số tiền là 4.500.000 đồng và chiếm đoạt của anh Phạm Huy H số tiền là 4.000.000 đồng. Tổng số tiền hai lần bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã chiếm đoạt được là 8.500.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn và trị an cho xã hội. Do đó cần phải đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật.

[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động bản thân, bị cáo biết hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi để thoả mãn nhu cầu chi tiêu của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Đây là thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Do đó cần có một hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo được bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần cho bị hại; bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Đức T1 số tiền là 4.5000.000 đồng, anh T1 không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Phạm Huy H không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với các hành vi khác: Đối với các hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của những người mua điện thoại khác như bị cáo đã khai. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm người bị hại và đã ủy thác điều tra đến các cơ quan Cảnh sát điều tra trên toàn quốc để xác định những người đã bị Phan Văn T lừa đảo chiếm đoạt tài sản tuy nhiên đến nay vẫn chưa nhận được kết quả. Bị cáo cũng không nhớ họ, tên bị hại, không nhớ số tiền đã chiếm đoạt nên chưa có cơ sở để điều tra xử lý.

[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Căn cứ 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn T: 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái,
  • - VKSND huyện Lục Yên;
  • - CCTHADS huyện Lục Yên;
  • - P.HSNV CA tỉnh;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu HS, TA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ngọc Thao

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger