Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-PT

Ngày: 26-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Thực.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương và ông Hoàng Tuấn Trọng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Như Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 01/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1999 tại huyện C, thành phố Hà Nội; Nơi thường trú: Thôn C, xã V, huyện C, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện tại: Thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Văn M và bà Đỗ Thị G; chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 14/6/2024, bị tạm giam ngày 19/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. “Có mặt tại phiên tòa”.

Ngoài ra trong vụ án còn có 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 14/6/2024, tổ công tác của Công an huyện T tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên phát hiện Nguyễn Thị H đang đứng gần hành lang trước quầy lễ tân của nhà nghỉ T1 có biểu hiện nghi vấn.

Quá trình kiểm tra đã phát hiện, thu giữ:

Bên trong túi xách màu đen, loại một dây, H đang đeo trên người có 01 túi nilon, dạng túi zip viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu M1). Tại phía trong áo ngực bên phải H đang mặc có 01 khẩu trang y tế màu xanh, bên trong chứa: 01 túi nilon, dạng túi zip viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu M2-1); 01 túi nilon, dạng túi zip viền màu đỏ, bên trong chứa 06 viên nén màu xám (được niêm phong ký hiệu M2-2); 01 gói giấy bạc bên trong có 01 túi nilon màu trắng, chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu M2-3) và 04 viên nén màu hồng (được niêm phong ký hiệu M2-4). Tại phía trong áo ngực bên trái H đang mặc có 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng gấp vuông, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu là M3). Nguyễn Thị H thừa nhận các chất tinh thể màu trắng, 06 viên nén màu xám và 04 viên nén màu hồng được bọc trong chiếc khẩu trang y tế màu xanh và tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bị thu giữ là ma túy của H mua của một người đàn ông tên là V với giá 2.000.000 đồng, mục đích để sử dụng. Đối với 01 túi nilon, dạng túi zip viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ trong túi xách của bị cáo, bị cáo khai nhận không phải là của bị cáo, không biết là của ai và tại sao lại ở trong túi xách của bị cáo.

Tại bản giám định số 450/KL-KTHS(MT) ngày 17/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận:

Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong phong bì ghi ký hiệu M1 có khối lượng là 6,280g, là ma túy, loại Ketamine; Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu M2-1 trong niêm phong ghi ký hiệu M2 có khối lượng là 13,393g, là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu chất dạng viên nén màu xám ký hiệu M2-2 trong niêm phong ghi ký hiệu M2 có khối lượng là 3,146g, là ma túy, loại MDMA; Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu M2-3 trong niêm phong ghi ký hiệu M2 có khối lượng là 0,745g, là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu chất dạng viên nén màu hồng ký hiệu M2-4 trong niêm phong ghi ký hiệu M2, có khối lượng là 0,411g, là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M3 có khối lượng là 0,176g, là ma túy, loại Ketamine.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, bị cáo sử dụng điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu đen gọi cho một người trước đây bị cáo quen qua mạng xã hội Facebook tên là V (bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể) hỏi mua 2.000.000 đồng tiền ma túy thì V đồng ý. Cả hai hẹn gặp nhau tại nhà nghỉ T1, thuộc thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên để giao dịch mua bán ma túy. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, bị cáo mang theo 01 túi xách màu đen, loại một dây rồi thuê xe taxi của anh Vũ Văn T ở Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương đi sang huyện T để mua ma túy. Anh T điều khiển xe ô tô chở bị cáo đến đầu đường rẽ vào nhà nghỉ T1, bị cáo xuống xe đi bộ vào nhà nghỉ T1 thì gặp 01 người đàn ông không quen biết đứng chờ ở cửa nhà nghỉ. Bị cáo hỏi người đàn ông “anh V đâu” thì người này trả lời “đang ở trên phòng”. Sau đó, bị cáo cầm theo túi xách của mình cùng người đàn ông trên đi lên một phòng nghỉ ở tầng hai của nhà nghỉ T1 (bị cáo không nhớ số phòng, chỉ nhớ vị trí phòng là đi lên cầu thang rẽ trái, sau đó đi đến phòng cuối cùng bên tay phải) thì gặp V trong phòng. Lúc này bị cáo nói với V “để cho em một ít để em về sử dụng”, ý hỏi mua ma túy thì V đồng ý và hỏi bị cáo “đưa tiền mặt hay chuyển khoản” thì bị cáo trả lời “chuyển khoản”. Sau đó, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo của mình đăng nhập vào ứng dụng ngân hàng MB số tài khoản ngân hàng B, chuyển số tiền 1.900.000 đồng vào tài khoản ngân hàng C mà V đọc cho và nói với V “cho em xin 100.000 đồng để trả tiền taxi” thì V đồng ý. V đưa cho bị cáo 01 khẩu trang màu xanh buộc dây nịt, bên ngoài kẹp thêm 01 gói giấy bạc. Bị cáo biết bên trong khẩu trang và gói giấy bạc chứa ma túy nên cầm và cất giấu vào bên trong áo ngực bên phải đang mặc. Bị cáo tiếp tục nói với V “anh ơi còn ke không cho em xin một ít để em xào vào tờ tiền em chơi” (ý bị cáo hỏi xin Việt ma túy loại Ketamine để sử dụng) thì V đồng ý rồi đưa cho bị cáo 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được gấp vuông. Bị cáo cầm tờ tiền mở ra thấy bên trong có chứa ma túy, loại Ketamin thì cầm và sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong bị cáo thấy còn thừa ma túy nên gấp vuông lại và cất giấu vào bên trong áo ngực bên trái đang mặc rồi đi bộ xuống tầng một để đi về. Khi đi đến trước cửa quầy thu ngân của nhà nghỉ T1 thì bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình tuy nhiên bị cáo không thừa nhận số ma túy có trong chiếc túi xách của bị cáo.

Bản cáo trạng số 57/CT-VKSTL ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n, khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

Áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 08 năm tù (Tám năm tù), thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 14/6/2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/12/2024, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm

Bị cáo Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm n khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên theo hướng giảm một phần hình phạt cho H từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H trong hạn luật định và hợp lệ được chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và lời khai của những người làm chứng; phù hợp với vật chứng đã thu giữ, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 14/6/2024, tại khu vực quầy lễ tân của nhà nghỉ T1, thuộc thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Thị H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người có tổng khối lượng là 24,151 gam (bao gồm 14,549 gam ma túy loại Methamphetamine; 3,146 gam MDMA và 6,456 gam Ketamine), mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bởi hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử phúc thẩm, nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện. Hành vi phạm tội của bị cáo còn là nguồn gốc làm phát sinh nhiều loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an xã hội và bất bình trong dư luận nhân dân tại địa phương. Mặt khác việc sử dụng ma túy còn là nguyên nhân làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, giống nòi cũng như kinh tế và hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo đã nhận thức được tác hại của ma túy cũng như hệ lụy do ma túy để lại cho gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đúng tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm và nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại giai đoạn sơ thẩm, bị cáo chưa thực sự thành khẩn khai nhận toàn bộ số ma túy bị thu giữ là của bị cáo nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị H thực sự ăn năn hối cải và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận toàn bộ số ma túy do cơ quan điều tra thu giữ trong túi sách và trong người là của bị cáo. Mẹ bị cáo là bà Đỗ Thị G xuất trình thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt của ông Nguyễn Văn M (bố đẻ bị cáo) có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự. Vì vậy để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với xã hội, Hội đồng xét xử quyết định giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên toà có căn cứ chấp nhận.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

[5]. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2024/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

Áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/6/2024.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND huyện Tiên Lữ ;
  • - VKSND huyện Tiên Lữ;
  • - CA huyện Tiên Lữ;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lữ;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 08/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger