Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-PT

Ngày: 12 - 6 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KAN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh

Các Thẩm phán: Ông Đặng Đình Hưng và ông Hà Quang Huy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Ma Thị Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2025/TLPT-HS, ngày 24/3/2025 do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST, ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

* Bị cáo bị kháng nghị:

Bế Thị N - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 01 năm 1966 tại tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tiểu khu E thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Bế Ích L (Đã chết) và bà Hoàng Thị N1 (Đã chết); C là Tô văn Đ: Có 01 con sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/6/2023 bị Trạm trưởng Trạm kiểm lâm B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Mua lâm sản trái pháp luật” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000888/QĐ-XPHC. (đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

* Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tô Văn Đ không liên quan đến nội dung kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/8/2024, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh B (PC03) đã cử tổ công tác cùng phối hợp với các cơ quan chức năng xác minh nguồn tin tại khu vực thôn P, xã C, huyện P, đã phát hiện người phụ nữ điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 97B1-339.22, có đặc điểm như tin báo. Tổ công tác đã kiểm tra, người phụ nữ khai thông tin là Bế Thị N, sinh năm 1966, trú tại Tiểu khu E, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ của Bế Thị N gồm: 01 túi nilon màu xanh, bên trong có 01 túi lưới màu trắng, bên trong chứa 01 cá rắn có đặc điểm đầu và phần lưng màu đen, có các vạch kẻ màu trắng ngang theo chiều dài cơ thể, nghi là loài Rắn hổ chúa, treo tại móc treo bên trái (theo hướng lái) xe mô tô của N; 01 bao tải dứa màu cam bên trong có 01 túi vải màu trắng, bên trong chứa 09 cá thể rắn gồm 08 cá thể rắn đều có đặc điểm phần lưng màu đen, phần bụng màu vàng nhạt nghi là loài Rắn ráo và 01 cá thể rắn có đặc điểm màu nâu, thân kẻ sọc nghi là loài Rắn sọc dưa, đặt tại giá để hàng giữa xe mô tô của N; 01 túi lưới màu trắng bên trong chứa 03 cá thể rắn đều có đặc điểm màu đen, trên đỉnh đầu có hình mắt kính nghi là loài Rắn hổ mang bành, cất trong cốp xe mô tô của N. Các túi chứa các cá thể nghi là loài rắn thu giữ của N được niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu N1. Ngoài ra, còn tạm giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng, số tiền 9.000.000 đồng và 01 xe mô tô biển số đăng ký 97B1-339.22 cùng chìa khóa xe.

Các các thể rắn thu giữ của Bế Thị N, niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu N1 được tiến hành mở niêm phong và cân xác định khối lượng. Tại biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng hồi 16 giờ 50 phút ngày 20/8/2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, kết quả:

  • + 01 cá thể rắn có đặc điểm đầu và lưng màu đen, có các vạch trắng ngang theo chiều dài thân, nghi là loài Rắn hổ chúa, có khối lượng 2,4kg;
  • + 08 cá thể rắn đều có đặc điểm phần lưng màu đen, phần bụng màu vàng nhạt, nghi là loài Rắn ráo, trong đó 07 cá thể còn sống có tổng khối lượng 1,6kg và 01 cá thể đã chết có khối lượng 0,4kg;
  • + 01 cá thể rắn có đặc điểm màu nâu, thân kẻ sọc, nghi là loài Rắn sọc dưa, có khối lượng 0,3kg;
  • + 03 cá thể rắn đều có đặc điểm màu đen, trên đỉnh đầu đều có hình mắt kính, nghi là loài Rắn hổ mang bành, có tổng khối lượng là 2,4kg.

Ngày 21/8/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định số 571/QĐ-CSKT, trưng cầu giám định đối với các cá thể động vật thu giữ của Bế Thị N.

Tại Kết luận giám định hình thái động vật số 1407/STTNSV ngày 21/8/2024 của V, Viện hàn lân Khoa học và Công nghệ Việt Nam, kết luận:

+ Xác định tên loài động vật:

  1. 01 cá thể động vật còn sống là loài Rắn hổ chúa, có tên khoa học là O hannah, thuộc lớp Bò sát (Reptilia).
  2. 03 cá thể động vật còn sống là loài Rắn hổ mang trung quốc, có tên khoa học là N2 atra, thuộc lớp Bò sát (Reptilia).
  3. 01 cá thể động vật còn sống là loài Rắn sọc dưa, có tên khoa học là C1 radiatus, thuộc lớp Bò sát (Reptilia).
  4. 08 cá thể động vật trong đó 07 cá thể còn sống, 01 cá thể đã chết là loài Rắn ráo, có tên khoa học là P korros, thuộc lớp Bò sát (Reptilia).

+ Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:

  1. Loài Rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
  2. Loài Rắn hổ chúa cũng có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
  3. Loài Rắn hổ mang trung quốc có tên trong nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
  4. Các loài Rắn sọc dưa và Rắn ráo không có tên trong Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ và Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

Ngày 04/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ban hành Yêu cầu số 502/YC-CSĐT yêu cầu định giá đối với các cá thể Rắn hổ mang trung quốc, Rắn ráo và R sọc dưa thu giữ của Bế Thị N.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTX ngày 08/11/2024, của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện P, kết luận: 03 cá thể động vật còn sống là loài Rắn hổ mang trung quốc; 08 cá thể động vật đều là loài Rắn ráo, trong đó 07 cá thể còn sống 01 cá thể đã chết; 01 cá thể động vật là loài Rắn sọc dưa. Tổng khối lượng 4,7kg, tổng trị giá là 1.310.000 đồng;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bế Thị N khai nhận: Bị cáo thường xuyên đến chợ các xã thuộc huyện P để thu mua nông sản. Ngày 20/8/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 97B1-339.22 đến xã C, huyện P thì gặp một người đàn ông không quen biết có bán rắn, bị cáo đã mua được 03 cá thể Rắn hổ mang bành, đựng trong túi lưới màu trắng với giá 900.000 đồng, 09 cá thể rắn gồm 01 cá thể Rắn sọc dưa, 08 cá thể Rắn ráo với giá 100.000 đồng, đựng trong bao tải dứa màu cam, bị cáo cất túi lưới đựng các cá thể Rắn hổ mang bành vào trong cốp xe mô tô, bao tải dứa màu cam chứa các các thể rắn Ráo và R sọc dưa thì đặt ở giá để hàng giữa xe mô tô, rồi điều khiển xe đi về hướng huyện B. Khi đến địa phận xã C, huyện P, bị cáo tiếp tục mua được 01 cá thể Rắn hổ chúa đựng trong túi lưới màu trắng, bên ngoài là túi nilon màu xanh với một người đàn ông không quen biết với giá 800.000 đồng, bị cáo treo túi đựng cá thể Rắn hổ chúa tại móc treo bên trái xe mô tô. Bản thân bị cáo nhận biết được các loài rắn khác nhau, trong đó có Rắn hổ chúa, R hổ mang bành, Rắn ráo, R sọc dưa và nhận biết được loài Rắn hổ chúa là loài rất quý hiếm, các loài rắn đều được ưu tiên bảo vệ, cấm buôn bán trái phép, nhưng do thấy rẻ nên đã mua về để có người mua thì bán lại kiếm lời. Khi đi đến thôn P, xã C, huyện P thì bị tổ công tác phát hiện thu giữ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST, ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn đã áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Bế Thị N 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Giao bị cáo Bế Thị N cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn ban hành Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSPN kháng nghị một phần (phần hình phạt chính) bản án sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST, ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Không áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cho bị cáo hưởng án treo; Giảm mức hình phạt tù cho bị cáo với các lý do:

  • - Thứ nhất, về điều kiện cho hưởng án treo được quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo.
  • - Thứ hai, về mức hình phạt tù đối với bị cáo là quá cao, không tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn thay đổi, bổ sung Quyết định kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-PT, ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, khoản 1 và điểm d, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm và sửa bản án sơ thẩm theo hướng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 2 Điều 50; điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 500.000.000 đồng đến 550.000.000 đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 50.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo xin áp dụng hình phạt tiền lý do đủ điều kiện để thi hành hình phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyệ Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn nên có căn cứ để HĐXX xem xét.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, qua phần xét hỏi, tranh luận công khai, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 20/8/2024, tại thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo Bế Thị N đã bị tổ công tác của cơ quan chức năng phát hiện có hành vi thu mua, vận chuyển 01 cá thể Rắn hổ chúa, có tên khoa học là O hannah, thuộc lớp bò sát (R) mục đích để bán kiếm lời. Loài Rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ và có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Do đó, hành vi của bị cáo Bế Thị N đã cấu thành tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự 2015. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, HĐXX xét thấy:

- Về điều kiện cho hưởng án treo: Ngày 01/6/2023, Bế Thị N bị Trạm trưởng Trạm kiểm lâm B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Mua lâm sản trái pháp luật” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000888/QĐ-XPHC, tuy đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng bị cáo phạm tội nghiêm trọng, thực hiện hành vi một mình không có đồng phạm nên không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao) bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo.

- Về mức hình phạt tù đối với bị cáo: Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 36 tháng tù là quá cao, không tương xứng với tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 BLHS thì hành vi buôn bán trái phép từ 01 cá thể đến 06 cá thể động vật lớp bò sát thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiểm được ưu tiên bảo vệ, sẽ bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến dưới 2 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trong vụ án này bị cáo Bế Thị N chỉ buôn bán 01 cá thể lớp bò sát (Rắn hổ chúa).

Như vậy, Quyết định kháng nghị 01/QĐ-VKSPN ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Năm, tỉnh Bắc Kạn là có căn cứ.

Tuy nhiên, ngày 02/6/2025, bị cáo có đơn xin được chấp hành hình phạt tiền, đồng thời bị cáo nộp số tiền 50 triệu đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn và chứng minh bị cáo có tài sản để thi hành án là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 467654 mang tên hộ ông Tô Văn Đ và bà Bế Thị N. Đây là tình tiết mới phát sinh trong giai đoạn phúc thẩm để xem xét giảm nhẹ hoặc áp dụng hình phạt khác nhẹ hơn. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS và có tài sản để đảm bảo thi hành hình phạt tiền. Do đó có căn cứ giảm nhẹ cho bị cáo theo hướng chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn có trong cùng điều luật bị truy tố xét xử thì cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Ý kiến thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ.

Do vậy, cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm và ý kiến thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

[4] Án phí: Vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357; điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSTPN, ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn và ý kiến thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 244; Điều 35; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Bế Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Xử phạt bị cáo Bế Thị N số tiền 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) theo Biên lai thu số 0000306 ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bế Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - VKSND huyện Pác Nặm;
  • - TAND huyện Pác Nặm;
  • - Chi cục THADS huyện Pác Nặm;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ,Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

  • Số bản án: 08/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bế Thị N phạm tội "Vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger