|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-PT Ngày 10 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ma Thị Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Ông Trần Anh Tuấn và ông Bàn Văn Thế.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo Vũ Văn T và Tô Văn T1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
* Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Vũ Văn T, sinh ngày 20/01/1973 tại tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và bà Đoàn Thị S (đều đã chết); có vợ là Đoàn Thị Q, sinh năm 1975 và có 02 con; tiền án, tiền sự: 02 tiền án.
- - Ngày 22/5/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản tại Bản án số 14/2013/HSST;
- - Ngày 10/6/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 năm 05 tháng tù về tội Cướp tài sản tại Bản án số 15/2013/HSST;
- - Ngày 25/9/2013 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội (phúc thẩm Bản án số 15/2013/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang), xử phạt 09 năm 05 tháng tù về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt 06 năm 06 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản tại Bản án số 14/2013/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 năm 11 tháng tù, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 14/02/2023, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Họ và tên: Tô Văn T1, sinh ngày 19/5/1978 tại tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn N, sinh năm 1956 và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1956; có vợ là Hoàng Thị Y, sinh năm 1982 và có 02 con; tiền án, tiền sự: 01 tiền sự
- Ngày 11/11/2023 bị Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi Đánh bạc, đã nộp phạt ngày 16/01/2024).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có 06 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 40 phút, ngày 20/5/2024, Nông Thị T2 nhắn tin qua ứng dụng Messenger rủ Lương Văn C, Tô Văn T1, Lý Văn T3 và Nguyễn Văn H1 đánh bạc thì được mọi người đồng ý. Sau đó, C gọi điện thoại cho Ma Văn H2 và Hứa Văn C1 rủ cùng tham gia đánh bạc. Sau khi mọi người đều đồng ý, C gọi điện cho Vũ Văn T tìm địa điểm đánh bạc, T đồng ý.
Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày T2, C, H2, C1, T1, T3 đến nhà T tại thôn Q, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang để đánh bạc, nhưng do nhà T đang có khách nên T dẫn mọi người đến nhà anh Phùng Vĩnh H3, sinh năm 1970 trú cùng thôn, T biết rõ anh H3 là người bị bệnh tâm thần bẩm sinh, sống một mình, nên khi gặp T nói dối anh H3 cho mọi người ngồi chơi, không nói gì liên quan đến việc đánh bạc. Sau đó T đi về nhà mình, còn H3 do bị tâm thần đi đâu hay làm gì không ai để ý.
Các đối tượng thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh L, dùng 01 bộ bài tủ lơ khơ 52 lá làm quân bạc. Khi bắt đầu cho một ván bạc những người chơi đều được chia 03 (Ba) quân bài để tính điểm dựa trên lá bài mình được chia và chỉ sử dụng các quân bài từ (A (Á) đến 9) để cộng điểm, điểm 09 (chín) được tính là điểm cao nhất; còn các quân bài 10, J, Q, K không được tính điểm (điển hình như 02 quân 10 và 01 quân J được tính là 0 điểm); nếu người chơi có tổng số điểm bằng nhau thì tính theo chất (rô, cơ, tép, bích) để phân biệt thắng, thua còn nếu người chơi được chia có 03 quân bài bất kỳ gồm J, Q, K mà không liền nhau (điển hình như cổ 02 quân J và 01 quận K) thì gọi là hình, hình được tính lớn hơn điểm; nếu 03 quân bài được chia liền nhau (điển hình như quân 1 (át),2,3 hoặc Q,K,A(át) thì gọi là liêng (thì mỗi người phải trả thêm cho người thắng 50.000 đồng), liêng được tính lớn hơn hình và điểm; liêng 1, 2, 3 là nhỏ nhất, liêng Q, K, A là lớn nhất (nếu bài liêng có các quân bài giống nhau thì tính theo chất để phân biệt thắng, thua); nếu có 03 quân bài được chia trùng nhau thì gọi là sáp (điển hình như 03 quân 2 hoặc 03 quân K – thì mọi người phải trả thêm cho người thắng 100.000 đồng), sáp được tính lớn hơn liêng và sáp 2 là nhỏ nhất, sáp Át là lớn nhất. Mỗi văn bạc người chơi phải đặt cược số tiền thấp nhất là 50.000 đồng (gọi là T4), sau đó người chia bài sẽ "Tố" thêm số tiền nhất định để những người còn lại theo hoặc có quyền tố thêm số tiền nhất định, nhưng tối đa không quá 500.000 đồng (tố lần lượt theo vòng), nếu ai không tiếp tục tham gia thì úp bài và bị thua mất số tiền đã đặt cược. Người thắng bạc là người có số điểm, hình, liêng hoặc có sáp cao nhất. Quy trình này được các đối tượng thực hiện lặp đi, lặp lại nhiều lần sau môi khi kết thúc một ván bạc và cá cược một ván mới. Quá trình đánh bạc có thêm Nguyễn Văn H1, trú tại thôn B, xã T, huyện C đến tham gia cùng đánh bạc.
Nhận được tố giác của quần chúng nhân dân về hành vi đánh bạc, khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, tổ Công tác Phòng C2 Công an tỉnh T kiểm tra phát hiện và lập biên xác minh tin báo tố giác tội phạm; tạm giữ tang vật tại chiếu bạc gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài và số tiền 19.530.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 19.880.000 đồng, cụ thể như sau:
- Lương Văn C sử dụng số tiền 2.400.000 đồng để đánh bạc (gồm cả số tiền 50.000 đồng nộp cho T);
- Nguyễn Văn H1 mang theo 8.000.000 đồng, H1 cho Tô Văn T1 vay 5.000.000 đồng để đánh bạc; H1 sử dụng đánh bạc 3.000.000 đồng (gồm cả số tiền 50.000 đồng nộp cho T);
- Nông Thị T2 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc (gồm cả số tiền 50.000 đồng nộp cho T);
- Tô Văn T1 mang theo số tiền 1.600.000 đồng, vay của Nguyễn Văn H1 5.000.000 đồng. Tổng số tiền T1 sử dụng để đánh bạc 6.600.000 đồng (gồm cả số tiền 50.000 đồng nộp cho T);
- Lý Văn T3 sử dụng số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc (gồm cả số tiền 50.000 đồng nộp cho T);
- Ma Văn H2 sử dụng số tiền 1.600.000 đồng để đánh bạc (gồm cả số tiền 50.000 đồng nộp cho T) .
- Hứa Văn C1 sử dụng số tiền 1.280.000 đồng để đánh bạc (gồm cả số tiền 50.000 đồng nộp cho T).
Quá trình điều tra đã xác định: Nông Thị T2 là người chuẩn bị bộ bài tú lơ khơ và thu của mỗi người tham gia đánh bạc 50.000 đồng, để trả cho Vũ Văn T công tìm địa điểm đánh bạc, tổng số tiền T được hưởng là 350.000 đồng. Ngoài ra trong quá trình đánh bạc do bị thua nên Hứa Văn C1 xé lá bài, sau đó Lương Văn C gọi cho T để lấy bộ bài khác, T đồng ý và lấy 01 bộ bài tú lơ khơ có sẵn trong nhà mình mang đến nhà H3 cho các đối tượng sử dụng tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc; khi T đến đưa bài thì T2 đưa cho T số tiền 350.000 đồng, T cầm tiền và đi ra khỏi nhà H3. Số tiền này T khai nhận: Sau khi nhận tiền từ Thơm trên đường quay về nhà mình T gặp H3, nghĩ rằng H3 bị tâm thần và sống một mình nên T đã đưa cho H3 (không nói cho H3 biết là tiền thu của các đối tượng đánh bạc, vì thi thoảng T vẫn cho tiền H3). Cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh và lấy lời khai Phùng Vĩnh H3, đối chất với Vũ Văn T nhưng H3 không có khả năng khai báo và không nhận thức được về những nội dung liên quan đến hành hành vi đánh bạc của các bị cáo.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn T, Tô Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối: Xử phạt Vũ Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Tô Văn T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Phạt tiền đối với mỗi bị cáo là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 06 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/11/2024, bị cáo Vũ Văn T có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị xem xét bị cáo không có tội; bị cáo Tô Văn T1 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tô Văn T1 đã rút toàn bộ kháng cáo; bị cáo Vũ Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
- - Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật; đơn kháng cáo của các bị cáo hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.
- - Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt các bị cáo Vũ Văn T 01 năm tù và Tô Văn T1 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tô Văn T1 đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T1 theo quy định. Bị cáo Vũ Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo, tuy nhiên bị cáo không xuất trình được tình tiết mới chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.
Các bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận và khi được nói lời sau cùng, bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không phạm tội đánh bạc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 30 phút đến 14 giờ 35 ngày 20/5/2024, tại nhà ở của anh Phùng Vĩnh H3 thuộc thôn Q, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Nông Thị T2, Lương Văn C, Tô Văn T1, Lý Văn T3, Ma Văn H2, Nguyễn Văn H1, Hứa Văn C1 đã có hành vi Đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh "Liêng" tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 19.880.000 đồng, trong đó: Lương Văn C sử dụng 2.400.000 đồng; Nguyễn Văn H1 sử dụng là 3.000.000 đồng; Nông Thị T2 sử dụng 1.000.000 đồng; Tô Văn T1 sử dụng 6.600.000 đồng; Lý Văn T3 sử dụng số tiền 4.000.000 đồng; Ma Văn H2 sử dụng 1.600.000 đồng và Hứa Văn C1 sử dụng số tiền 1.280.000 đồng để đánh bạc. Vũ Văn T thực hiện hành vi phạm tội Đánh bạc với vai trò giúp sức trong vụ án đồng phạm và được hưởng lợi số tiền 350.000 đồng.
Như vậy hành vi của các bị cáo Vũ Văn T và Tô Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, gây mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Vũ Văn T 01 năm tù và Tô Văn T1 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tô Văn T1 đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, vì vậy Hội đồng xét xử Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T1 theo quy định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Vũ Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo, tuy nhiên bị cáo không xuất trình được tình tiết mới chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[4] Bị cáo Tô Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Vũ Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 342, Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Tô Văn T1 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn T, giữ nguyên bản án Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt đối với bị cáo như sau:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với bị cáo là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/3/2025)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Thị Tuyết Mai |
Bản án số 08/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự phúc thẩm (về tội đánh bạc)
- Số bản án: 08/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 30 phút đến 14 giờ 35 ngày 20/5/2024, tại nhà ở của anh Phùng Vĩnh H thuộc thôn Q, xã Vinh Quang, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Nông Thị T, Lương Văn C, Tô Văn T, Lý Văn T, Ma Văn H, Nguyễn Văn H, Hứa Văn C đã có hành vi Đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh "Liêng" tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 19.880.000 đồng, trong đó: Lương Văn Chính sử dụng 2.400.000 đồng; Nguyễn Văn Hùng sử dụng là 3.000.000 đồng; Nông Thị T sử dụng 1.000.000 đồng; Tô Văn T sử dụng 6.600.000 đồng; Lý Văn T sử dụng số tiền 4.000.000 đồng; Ma Văn H sử dụng 1.600.000 đồng và Hứa Văn C sử dụng số tiền 1.280.000 đồng để đánh bạc. Vũ Văn T thực hiện hành vi phạm tội Đánh bạc với vai trò giúp sức trong vụ án đồng phạm và được hưởng lợi số tiền 350.000 đồng.
