Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 08/2025/HS-PT

Ngày: 12 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thái Hùng.
Ông Trần Minh Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 187/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đình Hồng H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Đình Hồng H, sinh năm 1995 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Số D H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Cha: Nguyễn Đình D; Mẹ: Ngô Thị T; Vợ, con: không có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2023, đến ngày 23/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 7 năm 2023, chị Lê Thị Kim T1 bị một nhóm đối tượng lấy tên Công ty S (viết tắt: Công ty S) yêu cầu chuyển tiền để nhận mã đánh giá sản phẩm. Sau khi chị T1 chuyển tổng cộng số tiền 58.675.000 đồng thì không liên lạc được với nhóm đối tượng trên nữa. Chị T1 nhắn tin cho Nguyễn Đình Hồng H kể lại sự việc trên thì H khuyên T1 ra Công an huyện C trình báo. Ngày hôm sau, H nảy sinh ý định lừa chị T1 để chiếm đoạt tiền tiêu xài cá nhân nên đã liên lạc với chị T1, đưa ra thông tin gian dối là có bạn làm Cảnh sát hình sự Công an tỉnh B có kinh nghiệm 05 năm chuyên phá những vụ án lừa đảo như trường hợp của chị T1; nếu vụ việc xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh thì chi phí đòi lại tiền là 2.000.000 đồng. Vì trước đây H có làm lính nghĩa vụ Công an nên chị T1 tin tưởng và ngày 30/7/2023 đã chuyển cho H 2.000.000 đồng vào số tài khoản 9964124864 ngân hàng V để làm chi phí đi lại.

Ngày 31/7/2023, H nói T1 do trụ sở Công ty S không ở Quận F, thành phố Hồ Chí Minh mà ở Tây Ninh nên cần 10.000.000 đồng làm chi phí đi lại. T1 chuyển cho H 8.000.000 đồng, đến ngày 01/8/2023 chuyển thêm 2.000.000 đồng. Ngày 02/8/2023 H yêu cầu T1 chuyển thêm 1.000.000 đồng, sau khi nhận tiền, H nói với T1 là Công ty S yêu cầu nộp 23.000.000 đồng thì Công ty cho rút ra 75.000.000 đồng. T1 không đủ tiền nên chỉ chuyển cho H 15.060.000 đồng vào tài khoản 9704229253446137 Ngân hàng MB của H. Tổng số tiền chị T1 đã chuyển cho H là 28.060.000 đồng.

Ngày 06/8/2023, để tạo niền tin nhằm chiếm đoạt số tiền lớn hơn, H nói không đòi được tiền của Công ty nên chuyển lại cho T1 số tiền 28.000.000 đồng. Cùng ngày, H nói đã liên lạc được với Công ty S nên nói T1 chuyển lại số tiền trên 28.000.000 đồng vào tài khoản số 050144532810 Ngân hàng S1 cho H.

Ngày 07/8/2023, H nói Công ty S đang ở Tây Ninh nhưng giáp biên giới, đi lại khó khăn nên nói T1 chuyển thêm 3.000.000 đồng vào tài khoản 9704229253446137. Cùng ngày, cũng với mục đích tạo niềm tin, H nói T1 là H không gặp được người của Công ty S nên chuyển lại cho T1 31.000.000 đồng.

Ngày 08/8/2023, H nói đã định vị được địa chỉ Công ty S ở biên giới Việt Nam - Campuchia nên nói T1 chuyển lại cho H 31.000.000 đồng vào tài khoản số 050144532810. Cùng ngày, H nói T1 chuyển thêm 3.000.000 đồng vào tài khoản 9704229253446137 để lo cà phê cho Công an T2.

Ngày 09/8/2023, H nói Công ty S yêu cầu nộp 10.000.000 đồng vào App của Công ty thì sẽ trả lại cho T1 100.000.000 đồng. T1 đồng ý chuyển 100.000.000 đồng vào tài khoản 9704229253446137. Sau đó, H tiếp tục yêu cầu T1 chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản 9704229253446137 để làm chi phí ăn uống.

Ngày 10/8/2023, H nói cùng Công an T2 đi Campuchia gặp Công ty S và yêu cầu T1 chuyển cho H 6.000.000 đồng vào tài khoản 9704229253446137 làm chi phí.

Ngày 11/8/2023, H nói Công ty S ở Campuchia nhưng nhóm đối tượng lừa đảo tiền của chị T1 ở Đà Nẵng nên nói T1 chuyển 10.000.000 đồng vào tài khoản 9704229253446137 để làm chi phí và bồi dưỡng cho cán bộ duyệt hồ sơ, nhưng do không có tiền nên T1 chỉ chuyển 7.000.000 đồng.

Sau đó H còn đề nghị chị T1 chuyển 5.000.000 đồng để bồi dưỡng cho cán bộ Tòa án ở Đà Nẵng, nhưng nghi ngờ H lừa đảo mình để chiếm đoạt tiền nên chị T1 đã làm đơn tố cáo gửi Công an thị trấn N để giải quyết.

Tổng số tiền H đã chiếm đoạt của chị T1 là 59.060.000 đồng, H đã tác động gia đình bồi thường cho chị T1 xong.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 18/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Hồng H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đình Hồng H 03 (Ba) năm tù, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 23/01/2024.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 22/7/2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bản thân là lao động chính nuôi cha mẹ già có nhiều bệnh; bị cáo lính nghĩa vụ Công an mới xuất ngũ, xin được giảm án và được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và nội dung, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Trong thời gian từ ngày 30/7/2023 đến ngày 11/8/2023 bị cáo đã nhiều lần chiếm đoạt nhiều lần của bị hại số tiền 59.060.000 đồng. Bản án sơ thẩm đã kết án bị Nguyễn Đình Hồng H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau: Trong tháng 7 năm 2023, chị Lê Thị Kim T1 bị một nhóm đối tượng lấy tên Công ty S lừa đảo chiếm đoạt số tiền 58.675.000 đồng. Lợi dụng mối quan hệ quen biết với chị T1 nên Nguyễn Đình Hồng H nảy sinh ý định lừa đảo chị T1 để chiếm đoạt tiền tiêu xài cá nhân. H đưa ra thông tin gian dối là có bạn làm Cảnh sát hình sự Công an tỉnh B có kinh nghiệm 05 năm chuyên phá những vụ án lừa đảo như trường hợp của chị T1, H sẽ giúp chị T1 đòi lại số tiền trên. Sau đó, H đưa ra các thông tin gian dối là cần tiền để lo các chi phí như chi phí đi lại, chi phí ăn uống, chi phí để lo cà phê cho Công an các tỉnh, thành phố... rồi yêu cầu chuyển tiền. Trong khoảng thời gian từ ngày 30/7/2023 đến ngày ngày 11/8/2023, H đã nhiều lần chiếm đoạt của chị T1 59.060.000 đồng.

Như vậy, Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đình Hồng H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo như sau:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có nhận thức, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên đã lợi dụng lòng tin của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của địa phương, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù là phù hợp.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo cung cấp quyết định số 290/QĐ-CAT-PX01 ngày 01/3/2023 của Công an tỉnh B về việc xuất ngũ đối với bị cáo là tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và đang có công việc ổn định, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng có thể trở thành công dân tốt và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp và đúng quy định pháp luật.

[4] Án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Hồng H, sửa Bản án sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Hồng H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Nguyễn Đình Hồng H 03 (Ba) năm tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (14/02/2025).

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Đình Hồng H không phải nộp tiền hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (12/02/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Phòng PV 06, 27 CA tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT ;
  • - TAND huyện Châu Đức;
  • - VKSND huyện Châu Đức;
  • - Công an huyện Châu Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Trí Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 08/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Hồng Hà - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản k2 Đ174
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger