Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THƯỜNG TÍN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 28/3/2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Trí.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà, ông Lương Văn Hùng.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 319/2024/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXX-ST ngày 27 tháng 2 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1992, nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, trú tại: xóm T, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình. (Có mặt).

Bị đơn: Anh Dương Văn C, sinh năm 1991, ĐKNKTT và trú tại: thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện, các chứng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Dương Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 17/02/2012 tại UBND xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau về tính cách, suy nghĩ, thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Anh C thường xuyên chơi bời cờ bạc gái gú, không lo kinh tế cho gia đình. Vợ chồng thường xuyên cãi vã. Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh C làm công việc lái xe, thu nhập trung bình khoảng 14 triệu đồng/01 tháng nhưng không đưa cho chị T một phần để chi tiêu sinh hoạt gia đình và nuôi con. Chi phí các con học hành, ốm đau đi viện đều do chị T gánh vác. Anh C còn có nhiều mối quan hệ bất chính với nhiều người phụ nữ khác, anh em trong nhà và người làng đều biết, chị T bỏ qua cho anh C nhiều lần nhưng anh C không cảm thấy hối lỗi, không thay đổi. Từ tháng 11/2023 chị T cùng các con chuyển về T, Hòa Bình (nhà ngoại) sinh sống và chấm dứt quan hệ vợ chồng với anh C. Từ khi chị T và các con bỏ về T, Hòa Bình anh C không lần nào tìm gặp chị T để hàn gắn. Chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh C theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Dương Mỹ V, sinh ngày 10/5/2013; Dương Mỹ L, sinh ngày 07/2/2015; Dương Minh N, sinh ngày 30/4/2018. Hiện tại cả 3 con đều đang ở với chị T và do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, chị T đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cả 3 con chung do bản thân anh C không có sự quan tâm, tình cảm với các con. Sau khi vụ việc ly hôn của anh chị được Tòa án thụ lý giải quyết, chị T có nói chuyện với anh C, anh C thể hiện quan điểm không muốn nuôi con nào.

Chị T hiện đang làm công nhân của công ty G, thu nhập trung bình hàng tháng từ 10 - 14 triệu đồng/tháng và ở cùng bố mẹ đẻ tại thôn T, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Bố mẹ chị T có nhà ở ổn định, có điều kiện phụ giúp chị T chăm sóc các con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ly hôn chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công sức và công nợ chung của vợ chồng: Không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

* Bị đơn: Anh Dương Văn C đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên toà (không có lý do).

* Xác minh tại UBND xã T cho thấy: Chị Phạm Thị T và anh Dương Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 17/02/2012, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến chị T và anh C sống ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Nay chị T có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho anh chị theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Anh C vắng mặt lần 2 không có lý do. Do bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên toà trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền; thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng; các đương sự như nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật (đều vắng mặt không có lý do).

Về nội dung: Trên cơ sở nội dung vụ án và diễn biến tại phiên tòa; Căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị T, cần xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Dương Văn C.

Về con chung: Để đảm bảo quyền lợi cũng như sự ổn định trong việc học tập, sinh hoạt và nguyện vọng của các con chung chưa thành niên, đề nghị giao cả 3 con chung cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Anh C có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C cho đến khi chị T có yêu cầu mới hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Về tài sản, công sức, các khoản vay, cho vay của vợ chồng: Chị T không đề nghị nên không đặt ra để xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T và anh C có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 - Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Anh Dương Văn C có ĐKTT và trú tại Thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Vì vậy căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án giao, gửi và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, có mặt chị T, vắng mặt anh C nhiều lần không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T, anh Dương Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, có đăng ký kết hôn ngày 17/02/2012 tại UBND xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, theo chị T thì vợ chồng này sinh nhiều mâu thuẫn do do không hợp nhau về tính cách, suy nghĩ, thường xuyên bất đồng quan điểm nhiều vấn đề từ tình cảm, kinh tế và nuôi dạy con chung. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến từ tháng 11/2023 chị T cùng các con chuyển về xóm T, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình sinh sống, chấm dứt quan hệ vợ chồng với anh C. Từ khi chị T và các con bỏ về T, Hòa Bình anh C không lần nào tìm gặp chị T để hàn gắn. Hai bên gia đình biết mâu thuẫn của vợ chồng nhưng cũng không có phương án hòa giải. Chị T nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên tha thiết xin được ly hôn anh C để sớm ổn định cuộc sống riêng của mỗi người.

Đối với anh C, suốt quá trình tố tụng, Tòa án đã mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C vẫn vắng mặt, thể hiện ý thức bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân và qua xác minh tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh C là thật sự trầm trọng, thời gian sống ly thân đã lâu, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T và cần xử cho chị T được ly hôn anh C là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Dương Văn C có 03 con chung là Dương Mỹ V, sinh ngày 10/5/2013; Dương Mỹ L, sinh ngày 07/2/2015; Dương Minh N, sinh ngày 30/4/2018. Hiện nay cả 3 con đều đang ở với chị T, do chị T trực tiếp nuôi dưỡng và các con chung được đảm bảo điều kiện ăn, ở, học hành; chị T có công việc, thu nhập ổn định. Đại diện gia đình chị T có cùng quan điểm với chị T, đề nghị Tòa án giao cả 3 con chung cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và sẽ tạo điều kiện hỗ trợ giúp đỡ chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu. Căn cứ tình hình thực tế của các bên, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của con chung chưa thành niên và nguyện vọng của các con. Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả 3 con chung là Dương Mỹ V; Dương Mỹ L; Dương Minh N cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T có quan điểm không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh C cho đến khi chị T có yêu cầu hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác.

[5] Về tài sản, công sức, các khoản vay và cho vay của vợ chồng: Chị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho các bên đương sự ở một vụ án khác nếu có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Chị Phạm Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị T và anh C có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị T đối với anh Dương Văn C;

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn anh Dương Văn C.

2. Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Dương Văn C có 03 con chung là Dương Mỹ V, sinh ngày 10/5/2013; Dương Mỹ L, sinh ngày 07/2/2015; Dương Minh N, sinh ngày 30/4/2018. Giao cả 03 con chung là Dương Mỹ V; Dương Mỹ L và Dương Minh N cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Anh Dương Văn C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C cho đến khi chị T có yêu cầu hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác.

3. Về tài sản, công sức, các khoản vay và cho vay của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị T theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0016531 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín. Chị T đã nộp đủ tiền án phí .

5. Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thường Tín;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Thường Tín;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Duy Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ - ST ngày 28/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị T ly hôn anh Dương Văn C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger