|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/02/2025 V/v: "T/c ly hôn, nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Ánh Tuyết.
2. Bà Nguyễn Thị Bắc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thuỷ Sơn Phương - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 694/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ P
Địa chỉ: 1 L, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai
2. Bị đơn: A
Địa chỉ: E L, tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai
Chị P có mặt, anh N có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 10 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ P trình bày:
- Về hôn nhân: Tôi và anh La Hải N nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ đầu năm 2018 đến ngày 20/5/2020 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Y, tỉnh Gia Lai
Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, tuy nhiên đến tháng 2/2023 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N1 quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không chăm lo cho gia đình mà ham chơi, phá phách gây thiệt hại cho kinh tế gia đình. Hiện tại chúng tôi đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay tôi nhận thấy mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh La Hải N2
- Về con chung: chúng tôi có 01 con chung tên La Tuấn K ngày 05/9/2020. Hiện nay con đang ở với tôi, ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con thành niên, có khả năng lao động, tự lập được.
- Về cấp dưỡng nuôi con: chúng tôi tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết các quan hệ này.
2. Toà án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh La Hải N2. Tuy nhiên, anh N có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại bản tự khai đề ngày 24/01/2025 bị đơn La Hải N3 bày:
- Về hôn nhân: Tôi và chị Nguyễn Thị Mỹ P tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Y, tỉnh Gia Lai vào ngày 20/5/2020.
Trong quá trình chung sống, tôi và chị P có xảy ra một số mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt như bao gia đình khác, không đến mức ảnh hưởng đến hôn nhân của vợ chồng. Hiện nay, hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Tuy nhiên, tôi nhận thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, hiện con đang còn nhỏ nên tôi không đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ P
- Về con chung: tôi và chị Nguyễn Thị Mỹ P có 01 con chung tên La Tuấn K ngày 05/9/2020. Vì không đồng ý ly hôn nên tôi đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết các quan hệ này.
Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 24/01/2025 anh La Hải N4 nguyên toàn bộ lời khai tại bản tự khai và không bổ sung gì thêm.
Tại phiên toà chị P vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ tranh chấp: căn cứ theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ P và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn anh La H Nhiện nay đang cư trú tại: 5 L, tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Do bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ và đã có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng (các phiên họp, hoà giải, xét xử) nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn La Hải N2
[3] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ P1 anh La Hải N2 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Y, tỉnh Gia Lai vào ngày 20/5/2020, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Mặc dù bị đơn vắng mặt tại phiên toà, nhưng căn cứ bản tự khai của bị đơn cũng như trình bày của nguyên đơn thì quá trình chung sống giữa vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm và lối sống, vợ chồng không hoà hợp dẫn đến hiện tại cả hai người đã sống ly thân. Đến thời điểm hiện tại, cả hai người không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị P nhận thấy mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh La Hải N2
Đối với bị đơn là anh N mặc dù có ý kiến không đồng ý ly hôn, nhưng trên thực tế hiện nay anh N5 chị P2 sống ly thân, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Cả anh N5 chị P3 không ai có thiện chí hay biện pháp gì để cải thiện tình trạng hôn nhân.
Tại phiên toà chị P4 định không còn tình cảm yêu thương anh N, không muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân với anh Nó nên có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị P5 việc ly hôn anh N là có căn cứ, được chấp nhận.
[4] Về con chung: chị Nguyễn Thị Mỹ P1 anh La H N có 01 con chung tên La Tuấn K ngày 05/9/2020. Hiện nay con đang ở với chị P Ly hôn chị P6 nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con thành niên, có khả năng lao động, tự lập được.
Đối với anh N, do không đồng ý ly hôn nên anh Nđề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Xét thấy nguyện vọng của chị P7 chính đáng, con chung hiện nay cũng đang do chị P8 dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P về việc nuôi con chung.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị Mỹ P9 yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị Mỹ P9 yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: chị Nguyễn Thị Mỹ P10 nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 4, 5, 6, 8, 9,10; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Mỹ P11
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn anh La Hải N2.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Mỹ P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 01 con chung tên là La Tuấn K ngày 05/9/2020 cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định thay đổi mức cấp dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị Mỹ P không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị Mỹ P không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thị Mỹ P phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai số 000685 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thanh Hà |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
