TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-11-2025 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Hùng
Ông Hồ Thế Việt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thành - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/11/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Nhật L, sinh năm 1993. Xin vắng mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường M, tỉnh Bắc Ninh
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986. Có mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án chị Ngô Thị Nhật L trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H ngày 04/12/2013 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh). Trước khi kết hôn chị được tự do tìm hiểu và không bị ép buộc.
Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh H lười lao động, không chăm lo cho gia đình. Anh H còn hay chơi bời dẫn đến vay nợ ngoài xã hội và gia đình đã nhiều lần vay trả nợ cho anh H nhưng anh H vẫn không chịu làm ăn mà vẫn chơi bời dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau và anh H hay đánh chị. Tháng 01 năm 2025 anh H tiếp tục đánh chị và chị đã báo công an giải quyết nhưng Công an đã không giải quyết việc gia đình chị nên chị
đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống nhưng anh H hay đến làm phiền bố mẹ chị. Chị ở nhà bố mẹ đẻ được 12 ngày thì đi thuê nhà ở nơi khác nhưng anh H thường xuyên nhắn tin, đe dọa đánh chị. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có con chung là cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 17/8/2014 và cháu Nguyễn Khắc V, sinh ngày 04/7/2018. Hiện nay hai cháu đang ở với anh H. Ly hôn chị đề nghị được chăm sóc hai cháu và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Hiện chị đang làm tự do mức lương hàng tháng khoảng 8.000.000 đồng/tháng.
Phía bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh và chị Ngô Thị Nhật L tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau. Ngày 04/12/2013, vợ chồng anh đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là phường T), tỉnh Bắc Ninh và được hai gia đình tổ chức hôn lễ theo phong tục truyền thống của địa phương.
Sau khi kết hôn, đời sống của hai vợ chồng diễn ra ổn định không thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn. Anh thừa nhận là người khá quan tâm, yêu thương và chăm lo gia đình không chời bời. Việc quản lý kinh tế, chi tiêu gia đình anh để cho chị L chủ động. Mỗi khi đi làm kiếm được tiền anh đều đưa cho vợ anh cất giữ thậm chí kể cả khi vợ chồng mâu thuẫn, cãi nhau vụn vặt. Anh H cũng thừa nhận anh là người nóng nảy, hay ghen và không thích vợ có mối quan hệ với người khác giới do khi chị L làm việc tại cửa hàng M, xoa bóp đông y có một số khách nam có thái độ không lịch sự với vợ anh nên anh H đã nổi nóng đuổi đánh khách ra khỏi cửa hàng sau đó, vợ chồng mới xảy ra mâu thuẫn. Khoảng tháng 06/2025 vợ anh nói dối anh là đi chùa với mẹ nuôi nên đã sinh nghi và nổi lòng ghen tuông vì lo vợ ngoại tình. Thời điểm đó vợ chồng anh có cãi nhau to tiếng và chị L lấy đồ đạc rời khỏi gia đình anh từ ấy đến nay không trở lại, không liên lạc về gia đình. Mặc dù, hai bên gia đình cũng chủ động liên lạc giàn xếp, hòa giải cho hai vợ chồng nhưng không có hiệu quả. Từ tháng 07/2025 đến nay anh không còn liên lạc được với chị L.
Nay chị L gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh không đồng ý và đề nghị Tòa án xem xét hòa giải cho vợ chồng anh được đoàn tụ vì anh vẫn rất yêu thương vợ, con và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 17/8/2014, cháu Nguyễn Khắc V, sinh ngày 04/7/2018. Hiện tại các cháu vẫn đang học tập và sinh sống ổn định cùng anh. Do không đồng ý ly hôn nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, riêng và công nợ: Vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay chị Ngô Thị Nhật L xin vắng mặt tại phiên toà và tại đơn xin vắng mặt chị L đề nghị Toà án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Chị đề nghị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 17/8/2014, cháu Nguyễn Khắc V, sinh ngày 04/7/2018. Ly hôn chị đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V, còn anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn đề nghị Tòa án xem xét hòa giải cho vợ, chồng anh được đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 17/8/2014 và cháu Nguyễn Khắc V, sinh ngày 04/7/2018. Nếu ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 cháu và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị Nhật L được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 17/8/2014 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Khắc V, sinh ngày 04/7/2018 cho chị Ngô Thị Nhật L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H, chị L có quyền thăm nom con chung. Vấn đề cấp dưỡng các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Ngô Thị Nhật L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” do nguyên đơn chị Ngô Thị Nhật L khởi kiện đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh.
Tại phiên tòa hôm nay chị Ngô Thị Nhật L có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Nhật L kết hôn với anh Nguyễn Văn H ngày 04/12/2013 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là phường T), tỉnh Bắc Ninh theo đúng quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp cần chấp nhận. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu không bị ép buộc.
Về mâu thuẫn vợ chồng theo chị L trình bày: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh H lười lao động, không chăm lo cho gia đình. Anh H còn hay chơi bời dẫn đến vay nợ ngoài xã hội và gia đình đã nhiều lần vay trả nợ cho anh H nhưng anh H vẫn không chịu làm ăn mà vẫn chơi bời dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau. Mỗi lần cãi nhau anh H lại đánh chị. Từ tháng 01/2025, chị bỏ về nhà mẹ đẻ vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Còn anh Nguyễn Văn H cho rằng sau khi kết hôn mâu thuẫn, cãi vã giữa hai vợ chồng có xảy ra nhưng chỉ là vụn vặt không quá lớn. Anh H cũng thừa nhận anh là người nóng nảy, hay ghen và không thích vợ có mối quan hệ với người khác giới do khi chị L làm việc tại cửa hàng M, xoa bóp đông y có một số khách nam có thái độ không lịch sự với vợ anh nên anh H đã nổi nóng đuổi đánh khách ra khỏi cửa hàng sau đó, vợ chồng mới xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên, anh cho rằng vợ chồng vẫn còn tình cảm với nhau và anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Qua xác minh ông Ngô Phú T là bố đẻ chị L cho biết sau khi chị L kết hôn với anh H1 được khoảng 01 năm thì vợ chồng anh H xẩy ra mâu thuẫn căng thẳng chị L đã bế con bỏ về nhà ông ở khoảng 02 năm thì gia đình anh H sang nói chuyện hòa giải và chị L đã về nhưng anh H là con người gia trưởng, vũ phu hay ghen tuông nên vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, bạo lực gia đình. Khoảng tháng 10 năm 2024 chị L mở cửa hàng massage, xoa bóp đông y tại T anh H luôn cho rằng chị L có mối quan hệ ngoại tình nên thường xuyên đến quán Q, gây rối nên phải trả mặt bằng thuê. Tháng 01/2025 chị L thuê nhà chỗ khác nhưng anh H vẫn qua quậy phá, gây rối. Do nhiều lần bị chồng bạo hành nên chị L không giám về nhà chồng và nhà đẻ nữa. HĐXX xét thấy: Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L, anh H là trầm trọng diễn ra trong thời gian dài, nhiều lần chị L cũng đã trở về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi chửi nhau, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L cho chị L ly hôn với anh H là phù hợp với quy định pháp luật.
2.2. Về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 17/8/2014 và cháu Nguyễn Khắc V, sinh ngày 04/7/2018. Ly hôn chị L đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V, còn anh H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1 và cháu V. Xét thấy chị L và anh H đều có đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục con cái. Mặc dù, cháu H1 và cháu V có nguyện vọng ở với bố nhưng chị L có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V. Mặt khác, xét về tâm sinh lý của các cháu và điều kiện chăm sóc, giáo dục các cháu thì thấy cần giao cháu H1 cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu V cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Anh H, chị L có quyền thăm nom con chung. Vấn đề cấp dưỡng các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
2.3. Về tài sản chung, công nợ: Chị L và anh H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
2.4. Về án phí: Chị Ngô Thị Nhật L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 266, 267, 269, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí tòa án, xử:
- Về quan hệ vợ chồng: Chị Ngô Thị Nhật L được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 17/8/2014 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Khắc V, sinh ngày 04/7/2018 cho chị Ngô Thị Nhật L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H, chị L có quyền thăm nom con chung. Vấn đề cấp dưỡng các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Ngô Thị Nhật L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001724 ngày 14/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Bắc Ninh.
Bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. /.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Xuân Phong |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Viết Dũng | Ngô Xuân Phong |
Nguyễn Văn Đức |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị L xin ly hôn anh H
