Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27 tháng 11 năm 2025

V/v “Tr/c Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
  • Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và ông Nguyễn Quang Tuyến
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nụ - Thư ký TAND khu vực 8 – Bắc Ninh
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 89/2025/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Dương Quang H, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
  • HKTT: Thôn H, xã L, tỉnh Bắc Ninh
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
  • HKTT: Thôn Y, xã C, tỉnh Bắc Ninh
  • Hiện đang chấp hành án tại đội 48, phân trại số A, Trại giam N3, cục C2 – Bộ C3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai gửi Tòa án, nguyên đơn là anh Dương Quang H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T được tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, được UBND xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/11/2007. Vợ chồng chung sống cùng nhau hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do bất đồng về quan điểm sống, cách sống dẫn đến đời sống hôn nhân không hòa thuận và hạnh phúc. Vợ chồng sống với nhau nhưng không còn tình cảm và sự quan tâm. Đến năm 2021 thì vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau. Hiện nay chị T đang chấp hành án tại Trại giam N3 và bản thân anh nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng và không còn khả năng đoàn tụ nên anh đề nghị được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Quang H được tự nguyện tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, được UBND xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, đến tháng 5/2023, chị bị bắt về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian đầu sau khi bị bắt thì anh H thường xuyên đến thăm chị, nhưng khoảng nửa năm sau thì anh H bắt đầu ít đến thăm và chị có cảm nhận giữa vợ chồng tôi có khoảng cách, ít giao lưu hơn. Tuy nhiên, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên chị không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh H.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh H tạo lập được khối tài sản chung là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu INOVA. Tuy nhiên, hiện tại chị chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu có yêu cầu, chị sẽ làm đơn giải quyết sau.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Dương Quang H và chị Nguyễn Thị T đều xác nhận đã được kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ trong hồ sơ, đều có đơn xin từ chối hòa giải và xin giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong bản tự khai và biên bản ghi lời khai.

Đại diện VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh tham gia phiên toà nhận xét:

Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.

Nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị xử:

  • Về quan hệ vợ chồng: Anh Dương Quang H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
  • Về con chung: Không có
  • Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đặt ra giải quyết.
  • Về án phí: Anh Dương Quang H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh Dương Quang H và chị Nguyễn Thị T đều có yêu cầu xin được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Anh Dương Quang H và chị Nguyễn Thị T được tự nguyện tìm hiểu và được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, được UBND xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn. Việc kết hôn đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Theo anh H, vợ chồng chung sống cùng nhau hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, cách sống dẫn đến đời sống hôn nhân không hòa hợp và hạnh phúc. Đến năm 2021 thì vợ chồng bắt đồng sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, chị T trình bày vợ chồng vẫn chung sống hòa thuận cho đến khi chị chấp hành án trong trại giam được khoảng nửa năm thì anh H mới ít đến thăm và vợ chồng mới có khoảng cách. Nay anh H làm đơn, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn và không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh H.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án, cả anh H và chị T đều không có tài liệu, chứng cứ chứng minh mâu thuẫn vợ chồng nộp cho Tòa án nhưng anh chị cùng xác nhận ở thời điểm hiện tại tình cảm vợ chồng đã có sự xa cách và không có sự quan tâm, chia sẻ. Hiện chị T đang chấp hành án về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, xét yêu cầu tha thiết đề nghị xin ly hôn của anh H thì nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị T là có thật trên thực tế dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng đoàn tụ. Xét cầu xin ly hôn của anh H là hoàn toàn phù hợp với thực tế cuộc sống vợ chồng, phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Về con chung: Anh H và chị T đều xác định vợ chồng trong thời gian chung sống không có con chung nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Các đương sự không đề nghị giải quyết. Do vậy, Tòa án không xem xét và giải quyết là phù hợp.

Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  • Về quan hệ vợ chồng: Anh Dương Quang H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
  • Về con chung: Không có.
  • Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đặt ra giải quyết.

Án phí: Anh Dương Quang H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh H đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai số 0002208 ngày 22/10/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh;
  • - Cơ quan THA tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã Lục Nam;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Quang H - Nguyễn Thị T - ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger