|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM TỈNH KONTUM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 27/3/2025. V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chế Thị Mai và bà Nguyễn Thị Sương.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Liên – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh KonTum .
Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Mỹ Vy – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum.
Ngày 27/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 249/2024/TLST- HNGĐ, ngày 28 tháng 11 năm 2024, về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1990. "Có mặt".
- Địa chỉ: C H, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
- - Bị đơn: Anh Đỗ Minh T1, sinh năm 1976. "Vắng mặt".
- Địa chỉ: 1 Đ, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì chị Huỳnh Thị Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Đỗ Minh T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 02/4/2013, tại UBND phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Việc kết hôn của chị và anh T1 là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn anh, chị sống hòa thuận đến cuối năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T1 không lo làm ăn; vợ, chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi, chửi nhau, xúc phạm nhau. Chị đã thuê nhà ra ở riêng từ đó đến nay. Vợ, chồng không quan tâm đến nhau việc ai người ấy làm, anh còn đến đánh chửi chị tại nhà trọ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Minh T1.
Về con chung: Chị khai, vợ, chồng sinh được 01 con chung là Đỗ Huỳnh Thủy T2, sinh ngày 07/7/2013. Từ khi chị dọn ra ở riêng đến nay, chị dẫn con đi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, không có sự đóng góp tiền nuôi con của anh T1. Do đó, khi ly hôn chị yêu cầu Tòa án giao con cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, không yêu cầu anh T1 phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có; Về án phí dân sự sơ thẩm chị nhận chịu.
Bị đơn: Anh Đỗ Minh T1 đã được Tòa án thông báo, triệu hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T1 không tham gia tố tụng, không có ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn; đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật; Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Đỗ Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt đến lần thứ hai tại phiên tòa nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T. Chị T được ly hôn với anh Đỗ Minh T1. Vì hôn nhân đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Nguyên đơn đang trực tiếp nuôi con và có nguyện vọng nuôi con sau khi ly hôn; nguyện vọng của con chung muốn ở với mẹ nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật; Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết; Án phí dân sự sơ thẩm chị T phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX xét thấy, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố K nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án thành phố K giải quyết là đúng thẩm quyền; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa mà vẫn vắng mặt không có lý do nên xét xử vắng mặt bị đơn như đề nghị của đại diện VKS là đúng pháp luật cần chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án:
- Quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thanh T và anh Đỗ Minh T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, việc kết hôn là tự nguyện, được xác định là hôn nhân hợp pháp.
- Xét nguyên nhân mâu thuẫn:
Chị Huỳnh Thị Thanh T xin ly hôn với anh Đỗ Minh T1, anh T1 biết việc khởi kiện xin ly hôn của chị T nhưng không có ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết, anh T1 phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Qua các tài liệu, chứng cứ thấy rằng, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chị T và anh T1 đã xảy ra mâu thuẫn do anh T1 không tu chí làm ăn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xúc phạm nhau, mâu thuẫn trầm trọng từ cuối năm 2023, chị T đã bỏ nhà đi thuê nhà ở riêng. Vợ, chồng không còn chung sống với nhau từ đó đến nay (BL 31); Vợ, chồng đã không còn quan tâm đến nhau, bỏ mặc nhau mà anh T1 còn đến nơi chị T trọ xúc phạm chị, vợ, chồng xúc phạm nhau. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1. Hội đồng xét xử xét thấy: Vợ chồng chị T và anh T1 không có sự tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Hôn nhân của chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị Huỳnh Thị Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Minh T1 là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 19, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình và khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh T1.
- Về con chung: Xét về yêu cầu của chị T được giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, chị không yêu cầu anh T1 phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
HĐXX xét thấy, vợ, chồng chị T và anh T1 sinh được 01 con chung là Đỗ Huỳnh Thủy T2, sinh ngày 07/7/2013. Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định thì khi ly hôn vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nhưng anh T1 biết việc yêu cầu tranh chấp nuôi con khi ly hôn của chị T nhưng không có ý kiến, không thỏa thuận việc nuôi con sau khi ly hôn nên HĐXX căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết và căn cứ vào nguyện vọng của con trên 07 tuổi để quyết định việc giao con sau ly hôn. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng: Từ khi vợ, chồng chị T, anh T1 không còn chung sống với nhau, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không có sự góp tiền nuôi con từ anh T1 nhưng chị T vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tốt (BL 32). Đồng thời, con chung có nguyện vọng ở với mẹ sau khi bố, mẹ ly hôn. Căn cứ Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu về nuôi con sau ly hôn của chị T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, chị T phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
- Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thanh T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn anh Đỗ Minh T1.
- - Về con chung: Giao con chung là Đỗ Huỳnh Thủy T2, sinh ngày 07/7/2013 cho chị Huỳnh Thị Thanh T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh Đỗ Minh T1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
- Anh Đỗ Minh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị Huỳnh Thị Thanh T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Huỳnh Thị Thanh T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai số 0000275 ngày 27/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Chị Huỳnh Thị Thanh T đã nộp đủ tiền án phí DSST.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/3/2025 để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Vũ Thị Hồng Dung |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn ,tranh chấp nuôi con