Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 – HÀ TĨNH


Số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/9/2024

V/v: Ly hôn & tranh chấp nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Khánh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Thái và ông Nguyễn Văn Việt;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh.

- Đại diện VKSND khu vực 4 – Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Vân A - Kiểm sát viên.

Vào hồi 16 giờ 30 phút, ngày 24/9/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 01/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/7/2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 27/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2025/QĐST-DS, ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm: 1981; số CCCD: [...], cấp ngày 17/12/2021; địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1982; số CCCD: [...], cấp ngày 02/10/2021; địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Hoàng Thị H trình bày:

Quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn N vào ngày 19/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện H (nay là UBND xã H), tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn thì chi H và anh N sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, anh N thường xuyên uống rượu chơi bời không tu chí làm ăn. Chị H đã cố gắng níu kéo, khuyên nhủ để vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình nhưng không có kết quả, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2024 cho đến nay. Hiện nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không còn tồn tại nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn N để đảm bảo cuộc sống tự do mỗi người.

- Con chung: Trong quá trình chung sống chị H và anh Ngọc S được 03 người con chung là Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 18/9/2014; Nguyễn Bảo U, sinh ngày 11/5/2017; Nguyễn Hoàng Bảo A1, sinh ngày 05/02/2019. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay anh N không trực tiếp nuôi dưỡng con mà cả 3 con chung sống cùng với chị H, nên sau khi vợ chồng ly hôn nhau để tránh sự đảo lộn cuộc sống hàng ngày, việc học tập của các cháu, chị H đề nghị Tòa án giao cả 3 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phía bị đơn anh Nguyễn Văn N: Sau khi Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập nhưng anh N không có mặt tại Tòa án để làm việc. Vì vậy, Tòa án tiếp tục tống đạt các văn bản tiếp theo gồm: Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại nơi anh N cư trú ở thôn P, xã H, tỉnh Hà Tĩnh theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh N cố tình trốn tránh, luôn vắng nhà và không ký nhận bất kỳ văn bản nào; đồng thời đã tống đạt các văn bản trên cho em trai anh N là anh Nguyễn Văn Đ và đã thông tin đầy đủ cho anh N. Anh Nguyễn Văn N không có ý kiến gì và cũng không đến Tòa án để làm việc theo các thông báo của Tòa án. Tại phiên tòa ngày 10/9/2025 anh N không có mặt nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa, đồng thời quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt cho em trai anh N theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa hôm nay lần thứ hai bị đơn anh Nguyễn Văn N vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hà Tĩnh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay thấy rằng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, trình tự thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn chị Hoàng Thị H chấp hành đúng pháp luật; còn bị đơn anh Nguyễn Văn N không thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự đó là không có mặt tại Tòa án để làm việc theo các thông báo, không ký nhận vào các biên bản giao nhận văn bản tố tụng, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại các phiên tòa đều không có lý do là chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS. Việc Tòa án tiếp tục xét xử và ra bản án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

- Điều luật: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, khoản 2 Điều 81, các khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử.

+ Quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn N.

+ Quan hệ con chung và cấp dưỡng: Giao cả 03 người con chung là Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 18/9/2014; Nguyễn Bảo U, sinh ngày 11/5/2017; Nguyễn Hoàng Bảo A1, sinh ngày 05/02/2019 cho chị Hoàng Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, vì từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay các con chung đều ở cùng chị H. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Hoàng Thị H. Anh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

+ Tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị miễn xét.

+ Án phí: Chị H tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn N. Anh N có nơi cư trú tại: Thôn P, xã H, tỉnh Hà Tĩnh do vậy xác định đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.

[2] Thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị H đã có bản khai. Tòa án đã tiến hành các thủ tục phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tố tụng và cũng đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra, giao nộp tiếp cận chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ, còn bị đơn anh N không ký nhận vào biên bản giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Anh N cố tình vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N.

[3] Quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn N vào ngày 19/02/2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện H (nay là xã H), tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn thì chi H và anh N sinh sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, anh N thường xuyên uống rượu chơi bời không tu chí làm ăn. Chị H đã cố gắng níu kéo, khuyên nhủ để vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình nhưng không có kết quả, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2024 cho đến nay. Hiện tại chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không còn tồn tại nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh N. Quá trình giải quyết vụ án, anh N không đến Tòa án để làm việc cũng như không tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa; đồng thời cũng không có văn bản gì thể hiện ý kiến của mình, có ý thức bỏ mặc cuộc hôn nhân này. Bên cạnh đó để có cơ sở giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân vợ chồng tại nơi cư trú, đã được em trai của anh N là anh Nguyễn Văn Đ khẳng định: Sau khi kết hôn thì chị H và anh N cư trú tại: Thôn P, xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Từ năm 2024, chị H và anh N mâu thuẫn và sống ly thân, đời sống chung vợ chồng giữa anh N và chị H mâu thuẫn đã rất trầm trọng. Hiện nay vợ chồng đã ly thân nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn về sống đoàn tụ với nhau nữa. Điều đó khẳng định mục đích cuộc hôn nhân chị H và anh N không đạt được và tại phiên tòa hôm nay chị H tha thiết yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn, nên cần căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị H được ly hôn anh N.

[4] Quan hệ con chung và cấp dưỡng: Quá trình sống chung giữa chị H và anh N có 03 người con chung là Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 18/9/2014; Nguyễn Bảo U, sinh ngày 11/5/2017; Nguyễn Hoàng Bảo A1, sinh ngày 05/02/2019. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến hôm nay các con chung đang sống cùng chị H và hiện nay chị H có nguyện vọng muốn được tiếp tục nuôi các cháu; cả ba con chung đều có nguyện vọng ở với mẹ nên cần căn cứ Điều 58, Điều 81, các khoản 1, 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao cả 03 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp về mọi mặt của các cháu là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

- Cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con, chị H đảm bảo đủ điều kiện vật chất để nuôi con, vì từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay thì chị H đủ đảm bảo mọi điều kiện để nuôi các con chung, nên cần chấp nhận ý kiến của chị H, do đó anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy miễn xét.

[6] Án phí: Chị H tự nguyện nộp tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 228, 264, 266, 271, 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016. Tuyên xử:

* Quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

* Quan hệ con chung: Giao chị Hoàng Thi H1 được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 người con chung là Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 18/9/2014; Nguyễn Bảo U, sinh ngày 11/5/2017; Nguyễn Hoàng Bảo A1, sinh ngày 05/02/2019 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H1.

Anh Nguyễn Văn N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; anh N không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến con; anh N được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định pháp luật.

* Án phí: Chị H1 thỏa thuận nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng chị H1 đã nộp theo biên lai số 0001254, ngày 01/7/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê (Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Hà Tĩnh), nay chị H1 không phải nộp tiếp.

* Quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2025); bị đơn anh Nguyễn Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND khu vực 4 – Hà Tĩnh;
  • - Phòng THADS khu vực 4;
  • - UBND xã Hương Phố;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Khánh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ TĨNH về ly hôn & tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn & tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger