Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Ý YÊN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:08/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/01/2025

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Tảo – Bà Trương Thị Dung.

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 24/01/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 225/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc:“Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Đình P, sinh năm 1948;

Địa chỉ: Đ, thôn H, xã M, Tp N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1954.

Địa chỉ: Xóm M, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Ông P có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bà T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn Ông Trần Đình P trình bày: Ông và bà Đỗ Thị T, kết hôn năm 1974, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống giữa ông và bà T, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên va chạm cãi nhau, vợ chồng, ly thân từ năm 1999, không còn quan tâm đến nhau. Nay ông P xác định không còn tình cảm với bà T, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà T; con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị T1, sinh 1978 và Trần Đình C, sinh 1984. Hiện các con chung đều đã trưởng thành, xây dựng gia đình nên không yêu cầu giải quyết; tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác có liên quan đến hôn nhân: Không có, không yêu cầu Tòa án huyện Ý giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Bà Đỗ Thị T đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T không đến làm việc.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, bà T vắng mặt. Ông P có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà Đỗ Thị T theo quy định tại khoản 3 Điều 210 bộ Luật Tố tụng dân sự, và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện chính quyền địa phương cung cấp: Vợ chồng ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định vào năm 1974, quá trình chung sống ông bà có hai con chung là Trần Thị T1, sinh 1978 và Trần Đình C, sinh 1984. Hiện các con chung đều đã trưởng thành, xây dựng gia đình. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng ông bà cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm rõ. Quá trình Tòa án thụ lý theo đơn của Trần Đình P, địa phương đã kết hợp với Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án cho bà Đỗ Thị T, nhưng bà T không đến làm việc. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định để giải quyết vụ án theo đúng pháp luật.

Tại phiên tòa: Ông Trần Đình P có đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt, bà Đỗ Thị T vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Căn cứ các Điều 51, 56 luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 147, Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử ly hôn giữa Ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T.

Về con chung: Các con chung của ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T đã trưởng thành xây dựng gia đình, nên không xem xét giải quyết

Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm ly hôn ông Trần Đình P phải nộp theo quy định pháp luật.

Chủ tọa phiên tòa công bố đơn của ông Trần Đình P đề nghị xét xử vắng mặt.

Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đỗ Thị T có hộ khẩu thường trú tại Xóm M, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Trần Đình P thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ý Yên là phù hợp quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tòa án huyện Ý tỉnh Nam Định, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Bà Đỗ Thị T vắng mặt, ông Trần Đình P có mặt và có đơn xin không tiến hành hòa giải. Quá trình giải quyết vụ án ông Trần Đình P có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, bị đơn Bà Đỗ Thị T triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 1974 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Sau thời gian chung sống hạnh phúc được một thời gian có con chung thì giữa Ông P, bà T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên va chạm. Vợ chồng ly thân kéo dài từ năm 1999, ông Trần Đình P, bà Đỗ Thị T không còn quan tâm đến nhau nữa. Ông P, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên kiên quyết xin ly hôn với bà Đỗ Thị T. Về phía bà Đỗ Thị T cũng đã nhận được thông báo, các văn bản tố tụng, giấy triệu tập của Toà án, bà T không lên Toà án giải quyết được. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bà Đỗ Thị T vắng mặt, chứng tỏ bà T không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, tình cảm giữa ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn của ông Trần Đình P. Xử cho ông Trần Đình P được ly hôn bà Đỗ Thị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Các con chung của ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T đều đã trưởng thành và xây dựng gia đình nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân ông Trần Đình P không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Ông Trần Đình P phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T.
  2. Về con chung: Các con chung của ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T đều đã trưởng thành và xây dựng gia đình nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đình P không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm ly hôn: Ông Trần Đình P phải nộp là 300.000 đồng, đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003774 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên, ông P đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo của đương sự: Ông Trần Đình P và bà Đỗ Thị T, vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Minh T2

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh+Huyện;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Yên Chính; Mỹ Trung.
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Đình P xin ly hôn bà Đỗ Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger