|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-01-2025 V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Quốc Hội
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Rạng Đông.
Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Toản - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 25/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Ngọc H, sinh năm 1998 (có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Anh Lê Trung Trường A, sinh năm 1997 (vắng mặt lần hai)
Cùng địa chỉ: Khu phố E, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, chị Trương Ngọc H trình bày:
Vào năm 2018, chị Trương Ngọc H và anh Lê Trung Trường A tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A, huyện P (nay là UBND phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 28/02/2018.
Quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung tên Lê V, sinh ngày 30/7/2015 và Lê Huy A1, sinh ngày 04/9/2020.
Từ khi kết hôn, tình cảm vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc, tuy nhiên mấy năm gần đây tình cảm vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống mục đích hôn nhân không đạt được.
Chị Trương Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Lê Trung Trường A
Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên Lê V, sinh ngày 30/7/2015 và Lê Huy A1, sinh ngày 04/9/2020. Chị H đồng ý giao 02 con chung cho anh A nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị H không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị H xác nhận vợ chồng không có nợ ai và không có ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ khi thụ lý vụ án đến nay, anh Lê Trung Trường A đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, không ghi nhận được ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.
Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị H đã chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71 và có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Ngọc H được ly hôn với anh Lê Trung Trường A.
Về con chung: Giao cho anh Lê Trung Trường A nuôi dưỡng hai cháu tên Lê V, sinh ngày 30/7/2015 và Lê Huy A1, sinh ngày 04/9/2020. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không ai yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản chung: Chị H xác nhận không có, đề nghị miễn xét.
Về nợ chung: Chị H xác nhận không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Trương Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lê Trung Trường A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H và anh A.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Trương Ngọc H, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Lê Trung Trường A có địa chỉ cư trú tại khu phố E, phường A, thành phố P, Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trương Ngọc H và anh Lê Trung Trường A tự tìm hiểu yêu thương nhau, chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A, huyện P (Nay là UBND phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 28/02/2018, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H: Quá trình giải quyết vụ án, chị H cho rằng tình cảm vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến mấy năm gần phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng.
Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau ... Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo hòa giải vụ án hai lần theo quy định, tuy nhiên anh A đều vắng mặt không lý do và không có ý kiến về việc xin ly hôn của chị H. Từ đó, vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của chị H và anh A là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh A.
[4] Về con chung:
Chị H xác nhận vợ chồng có 02 người con chung tên Lê V, sinh ngày 30/7/2015 và Lê Huy A1, sinh ngày 04/9/2020. Tại đơn khởi kiện ngày 21/5/2024 chị H yêu cầu Tòa án được nuôi dưỡng cháu Lê Huy A1 và giao cháu Lê V giao cho anh A nuôi dưỡng. Tuy nhiên, tại Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện xin ly hôn ngày 16/12/2024 của chị H đồng ý giao 02 cho anh A nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử thấy rằng đây là sự tự nguyện và quyền định đoạt của đương sự nên chấp nhận giao 02 cháu V và cháu Huy A1 cho anh A nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Xét yêu cầu cấp dưỡng: Do anh A nhiều lần vắng mặt, không có ý kiến về các nội dung yêu cầu theo đơn khởi kiện của chị H nên không ghi nhận được yêu cầu của anh A về việc cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện vụ án khác.
[5] Về tài sản chung:
Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện vụ án khác.
[6] Về nợ chung:
Chị H xác nhận không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí:
Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 267, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Ngọc H được ly hôn với anh Lê Trung Trường A.
- Về con chung: Giao cho anh Lê Trung Trường A tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con tên Lê V, sinh ngày 30/7/2015 và Lê Huy A1, sinh ngày 04/9/2020 đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Anh A và các thành viên trong gia đình không được cản trở chị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích mọi mặt của con, trường hợp cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Xét yêu cầu cấp dưỡng: Do anh A nhiều lần vắng mặt, không có ý kiến về các nội dung yêu cầu theo đơn khởi kiện của chị H nên không ghi nhận được yêu cầu của anh A về việc cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện vụ án khác.
- Về tài sản chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện vụ án khác.
- Về nợ chung: Chị H xác nhận không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí:
Chị Trương Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000385 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc. Khấu trừ tiền án phí, chị H không phải nộp thêm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Quốc Hội |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
