Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày 17 tháng 3 năm 2025

Về việc: Tranh chấp hôn nhân

và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lò Thị Quỳnh .
  2. Ông Tòng Văn Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tía - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thùy Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 63/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXX-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025;

Nguyên đơn: Ông Đèo Văn H, sinh năm 1972. Hộ khẩu thường trú: Bản H xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Là người giám hộ cho anh Đèo Văn P, sinh năm 1992. Hộ khẩu thường trú: Bản H xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Bị đơn: Chị Quàng Thị T, sinh năm 1994. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Híp, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 7 năm 2024, sửa đổi bổ sung ngày 13/01/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người giám hộ của nguyên đơn anh Đèo Văn P, ông Đèo Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đèo Văn P và chị Quàng Thị T kết hôn với nhau từ ngày 30/5/2012 do cả hai cùng tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống không hạnh phúc thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống. Đến tháng 11/2020 anh P bị tai nạn giao thông phải mổ não 5 lần và bị di chứng sa sút trí tuệ sau chấn thương sọ não, khó khăn về nhận thức và điều khiển hành vi ở người bình thường. Không tự chăm sóc bản thân. Nhưng chị Quàng Thị T không chăm sóc chồng mà có quan hệ bất chính với người khác, đã bị gia đình chồng bắt được quả tang. Sự việc đã được Tổ hòa giải của bản Híp hòa giải, tuy nhiên chị T đã bỏ về nhà mẹ đẻ từ năm 2020 đến nay không hỏi han chăm sóc chồng con. Anh P1 và chị T đã ly thân nhiều năm, không quan tâm chăm sóc đến nhau nữa. Nay với tư cách là người giám hộ đương nhiên của anh P, ông H yêu cầu Tòa án cho anh P được ly hôn với chị T.

Về con chung: Đèo Bảo N, sinh ngày 22/7/2012 và Đèo Thị Bảo C, sinh ngày 05/11/2014. Ông Đèo Văn H đề nghị Tòa án cho anh Đèo Văn P được nuôi cháu Đèo Thị Bảo C, sinh ngày 05/11/2014.

Về cấp dưỡng cho anh Quàng Văn P2 và con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

  1. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án bị đơn chị Quàng Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Việc chị Quàng Thị T và anh Đèo Văn P tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố S ngày 30/5/2012 và có 02 con chung như ông H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn chị T và anh P sống chung với bố mẹ chồng, mọi mâu thuẫn của vợ chồng đều phát sinh từ bố chồng, ông H thường xuyên kiếm cớ gây chuyện với chị T, khiến chị T không thể sống chung với anh P được nữa. Chị không tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ mà do ông H đuổi chị đi. Trên thực tế vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 4 năm 2021. Xét thấy tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian sống chung, chị T và anh P có 02 con chung là: Đèo Bảo N, sinh ngày 22/7/2012 và Đèo Thị Bảo C, sinh ngày 05/11/2014. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay thì các con chung ở với ông bà nội và anh P, không phải chị T không muốn nuôi con mà do ông H cấm chị không được gặp con. Nay Tòa án giải quyết ly hôn thì nguyện vọng của chị T xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Do anh P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên không có khả năng nuôi dưỡng và giáo dục các con.

Về cấp dưỡng cho con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa:

Đương sự có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm của mình về quan hệ hôn nhân và thỏa thuận được về con chung, đồng ý giao cả hai con chung cho chị T nuôi dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đường lối giải quyết vụ án như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn, người giám hộ đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23, Điều 53, Điều 136 Bộ luật dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b khoản 1 Điều 11 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Đèo Văn H, xử cho anh Đèo Văn P được ly hôn chị Quàng Thị T; Giao các cháu Đèo Bảo N, sinh ngày 22/7/2012 và Đèo Thị Bảo C, sinh ngày 05/11/2014 cho chị Quàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Ông Đèo Văn H và anh Đèo Văn P không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn chị Quàng Thị T cư trú tại bản H, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Đèo Văn P đã bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tại Quyết định số 02/2024/QÐST-DS ngày 27/12/2024. Theo quy định tại Điều 23, Điều 53, Điều 136 của Bộ luật dân sựngười giám hộ đương nhiên của anh P là ông Đèo Văn H, do đó ông H tham gia tố tụng với tư cách là người giám hộ.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của người giám hộ của nguyên đơn Đèo Văn P là ông Đèo Văn H yêu cầu cho anh H được ly hôn chị Quàng Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Đèo Văn P và chị Quàng Thị T tự nguyện lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La ngày 30/5/2012 là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ .

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án cả người giám hộ của nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận trong thời gian sống chung anh Đèo Văn P và chị Quàng Thị T có xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau, anh Đèo Văn P bị khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sống phụ thuộc vào sự chăm sóc của người thân. Từ năm 2021 vợ chồng đã sống ly thân nhưng mâu thuẫn vẫn không khắc phục được, nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã rất trầm trọng nên người giám hộ của anh P là ông H yêu cầu cho anh P được ly hôn chị T, chị T cũng đồng ý ly hôn với anh P.

Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình duy trì hôn nhân của anh P và chị T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, chính quyền địa phương hòa giải, can thiệp nhưng vẫn không khắc phục được, từ năm 2021 vợ chồng sống ly thân đến nay, không ai quan tâm, chăm sóc ai, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của người giám hộ của anh P là phù hợp theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình

Về con chung: Anh Đèo Văn P và chị Quàng Thị T có 02 con chung chưa thành niên, quá trình Tòa án giải quyết vụ án chị Quàng Thị T có nguyện vọng nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử xét thấy, nguyện vọng của chị T là phù hợp với nguyện vọng của các con chung, phù hợp với điều kiện nuôi dưỡng hơn nữa anh P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên để đảm bảo quyền lợi của các con chung cần giao các con chung chưa thành niên là cháu Đèo Bảo N, sinh ngày 22/7/2012 và Đèo Thị Bảo C, sinh ngày 05/11/2014 cho chị Quàng Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là có căn cứ phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Anh P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có.

[3] Về án phí: Ông Đèo Văn H và anh Đèo Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23, Điều 53, Điều 136 Bộ luật dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người giám hộ của anh Đèo Văn P, ông Đèo Văn H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đèo Văn P được ly hôn chị Quàng Thị T.
  2. Về con chung: Giao cháu Đèo Bảo N, sinh ngày 22/7/2012 và Đèo Thị Bảo C, sinh ngày 05/11/2014 cho chị Quàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi anh Quàng Văn P2: Các đương không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có.
  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Đèo Văn H và anh Đèo Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/3/2025)./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - UBND phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa Đèo Văn H - Quàng Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger