Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh

Bà Nguyễn Thị Đẹp

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 204/2024/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Trúc L, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: Số A, đường L, Khóm D, Phường A, Tp S, tỉnh Đ.

  2. Bị đơn: Anh Võ Minh H, sinh năm 1978.

    HKTT: Số 179, đường Lý Thường Kiệt, Khóm 4, Phường 1, Tp Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

    Chỗ ở: Số 444, đường Trần Hưng Đạo, Khóm 3, Phường 1, Tp Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn chị L có, bị đơn anh H vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Phạm Thị Trúc L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H tìm hiểu, quen biết nhau vào đầu năm 2001, sau đó cả hai tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại U, TP S vào ngày 10/11/2004. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2020-2021 thì

vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh H ghen tuông vô cớ, lý do do bạn bè quen biết trên mạng xã hội nhắn tin chúc mừng sinh nhật, chào hỏi gửi lời chúc hàng ngày, anh H thấy tin nhắn nên anh H điện thoại cho người nhắn tin chửi, cấm không cho liên hệ, nhắn tin. Anh H có những lời nói xúc phạm chị L, chị L bị anh H rượt đánh 1-2 lần nhưng được can ngăn kịp thời. Sau đó vào tháng 11/2024 chị L có nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với anh H, sau đó rút đơn khởi kiện để cho anh H cơ hội sửa đổi nhưng anh H không thay đổi. Từ tháng 11/2024 đến nay, chị L và anh H sống ly thân, anh H về nhà cha mẹ ruột tại số D, đường T, Khóm C, phường A, Tp S, tỉnh Đ sinh sống, chị L thì sinh sống tại nhà cha mẹ chị L, từ khi sống ly thân đến nay thì anh H không có đến gặp chị L, cũng như không có điện thoại cho chị L, chỉ có đến gặp 02 con một lần. Từ khi chị L nộp đơn khởi kiện từ tháng 11/2024 đến nay anh H không có gửi tiền chi phí ăn học cho con Hồng Hân, cũng như chi phí sinh hoạt cho con Hồng T. Chị L xác định không có nhắn tin với nội dung tin nhắn như anh H trình bày.

Nay chị L nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được, tình cảm đối với anh H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu ly hôn anh H.

- Về nuôi con chung: Chị L và anh H có hai con chung tên Võ Hồng H1, sinh ngày 19/01/2006 và Võ Huỳnh Hồng T, sinh ngày 08/3/2010, khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi dưỡng con Hồng Trúc, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con Hồng T. Đối với con Hồng H1 đã thành niên nên chị L không yêu cầu giải quyết.

- Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị L không yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Võ Minh H vắng mặt nhưng tại bản tự khai, các biên bản lấy lời khai có ý kiến trình bày:

- Về hôn nhân: Về thời gian tìm hiểu, sống chung vợ chồng, đăng ký kết hôn thì anh H thống nhất với phần trình bày của chị L. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc ly hôn, theo lời trình bày của chị L thì anh H chỉ thống nhất một phần. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 6/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là chị L nói không muốn sống chung với anh H nữa. Ngoài ra, còn nguyên nhân anh H bắt gặp chị L nhắn tin với người đàn ông lạ trên mạng xã hội, người đàn ông đó nhắn tin với nội dung “khi nào không ở với H thì đi theo anh (người đàn ông lạ)”, anh H có hỏi lại chị L thì chị L nói chỉ là bạn bè, anh H tức giận nên nói lớn tiếng với chị L, anh H có đập diện thoại, không rượt đánh chị L như chị L trình bày, anh H không có đánh chị L. Sau đó, anh H có hỏi lý do gì nhắn tin nội dung như vậy thì chị L nói bạn bè nhắn tin bình thường, sau đó anh H và chị L có giận nhau 01 - 02 ngày sau đó làm hòa. Sau đó, anh H không

biết nguyên nhân gì vào tháng 10/2024 chị L nội đơn ly hôn với anh H, sau đó anh H có năn nỉ nhưng chị L kiên quyết ly hôn. Từ ngày 09/12/2024 đến nay, anh H không còn sống chung với chị L và con, hiện nay anh H đang sống tại số D, đường T, Khóm C, phường A, Tp S, tỉnh Đ, do chị L không cho anh H ở chung. Ngoài việc có thời gian gặp mặt, trao đổi năn nỉ chị L thì anh H xác định không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm với chị L.

Nay anh H không đồng ý ly hôn với chị L, lý do anh H còn thương vợ con, muốn hai vợ chồng sống chung lo các con.

- Về nuôi con chung: anh H và chị L có hai con chung tên Võ Hồng H1, sinh năm 19/01/2006 và Võ Huỳnh Hồng T, sinh ngày 08/3/2010, hiện Võ Hồng H1 và Võ Huỳnh Hồng T đang sống chung với chị L. Trong trường hợp ly hôn thì đối với con Hồng T, anh H đồng ý giao con Hồng T cho chị L nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con Hồng Trúc. Đối với con Hồng H1 đã thành niên nên anh H không yêu cầu giải quyết.

- Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, anh H không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 9, 19, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Trúc L. Chị Phạm Thị Trúc L được ly hôn với anh Võ Minh H.

- Về con chung: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Phạm Thị Trúc L và anh Võ Minh H. Chị Phạm Thị Trúc L được quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Võ Huỳnh Hồng T, sinh ngày 08/3/2010 (hiện đang sống với chị L). Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội tuyên thu mức án phí đúng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Phạm Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Võ Minh H loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về tố tụng: Bị đơn anh Võ Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H theo quy định.

[3]. Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1]. Về hôn nhân: Chị L và anh H chung sống vợ chồng từ năm 2001 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn ngày 10/11/2004 tại U, thành phố S, Đ. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị L, anh H được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”

Qua Tòa án thu thập chứng cứ là lời khai của chị L và anh H thể hiện trong quá trình chung sống vợ chồng giữa chị L và anh H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn như thường xuyên gây gỗ, anh H thường xuyên ghen tuông vô cớ. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do cả hai không cùng quan điểm sống, không tin tưởng nhau. Từ tháng 12/2024 đến nay chị L và anh H không còn sống chung, anh H về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc, lo lắng cho nhau đến nay.

Từ đó cho thấy đời sống hôn nhân giữa chị L, anh H vi phạm nghiêm trọng quy định về tình nghĩa vợ chồng.

Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án cũng đã động viên, hàn gắn tình cảm, đoàn tụ vợ chồng để cùng chăm lo cho các con, nhưng chị L vẫn cương quyết

yêu cầu ly hôn anh H. Chị L xác định không còn tình cảm với anh H, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân với anh H không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.

Về phía anh H: Không đồng ý ly hôn chị L với lý do vì anh H vẫn còn tình cảm với chị L, nhưng anh H cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với chị L.

Từ những phân tích trên cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh H đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, vi phạm nghiêm trọng quy định về tình nghĩa vợ chồng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nếu chị L và anh H đoàn tụ tiếp tục chung sống vợ chồng thì cũng không có hạnh phúc và chị L cho rằng cũng sẽ không trở về sống chung vợ chồng với anh H nếu không được ly hôn với anh H. Do đó, xét thấy việc chị L yêu cầu được ly hôn anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2]. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với con chung Võ Hồng H1 đã thành niên nên không xem xét, giải quyết. Đối với con Võ Huỳnh Hồng T, sinh ngày 08/3/2010, khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung Hồng Trúc, hiện con Hồng T đang sống chung với chị L và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình làm việc và tại phiên tòa anh H cũng đồng ý giao cháu T cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay các cháu T đang sống ổn định với chị L, có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nguyện vọng của cháu T cũng mong muốn được tiếp tục chung sống với chị L. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy nên tiếp tục giao các cháu T cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu T và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho các cháu trong sinh hoạt, học tập. Anh H được quyền tới lui thăm nom con, không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3]. Về chia tài sản chung và nợ chung:

Về chia tài sản chung khi ly hôn: Do chị L và anh H xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Do chị L và anh H xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5]. Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Trúc L. Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Trúc L và anh Võ Minh H.
  2. Về nuôi con chung:
    • - Đối với con chung Võ Hồng H1 đã thành niên nên không xem xét, giải quyết.
    • - Chị Phạm Thị Trúc L được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Võ Huỳnh Hồng T, sinh ngày 08/3/2010, hiện con Hồng T đang sống chung với chị L.
    • - Chị Phạm Thị Trúc L không yêu cầu anh Võ Minh H cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này nên không xem xét, giải quyết.
    • - Anh Võ Minh H có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Phạm Thị Trúc L nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị T1 đã nộp ngày 16/12/2024 theo biên lai thu số 0008033 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Võ Minh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuấn Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger