|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06-02-2025 V/v tranh chấp: “Ly hôn và nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sang
Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh Nhung- Thư ký Toà án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Quốc - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 223/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 420/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Thông báo xét xử sơ thẩm số 33/TBXX-ST ngày 17/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc G; sinh năm: 1983. ĐKTT: 170A khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Điện thoại: 0939.636.xxx. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trường N; sinh năm: 1982. Địa chỉ: A khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Điện thoại: 0939.288.xxx. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lê Thị Ngọc G cho rằng:
Bà và ông Nguyễn Trường N sau khi quen biết, tìm hiểu được khoảng 03 năm thì tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố V, tỉnh Hậu Giang vào ngày 10/12/2015.
Sau khi chung sống, do ông N không lo làm ăn, không phụ giúp bà về kinh tế gia đình nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Đến đầu năm 2024, bà phát hiện ông N có quan hệ với người phụ nữ khác nên mâu thuẫn ngày càng gay gắt; do đó, mặc dù vợ chồng còn sống chung nhà nhưng đã ly thân từ thời điểm đó đến nay.
Nay bà nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này được nữa nên yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống các bên sau này.
Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Lê Khả H (nữ); sinh ngày 19/3/2016. Bà yêu cầu nuôi con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Quá trình giải quyết vụ án, khi nhận được thông báo triệu tập của Toà án, bị đơn là ông Nguyễn Trường N có ghi ý kiến vào biên bản giao nhận thông báo là ông không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án tại Toà.
Sau khi thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết, Toà án đưa vụ kiện ra xét xử công khai.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị:
- + Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy: bà Lê Thị Ngọc G yêu cầu ly hôn, còn ông N mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt; tuy ông N có ý kiến cho rằng không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra giải pháp nào hay động thái nào để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ lại nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà G được ly hôn với ông N.
- + Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Lê Khả H (nữ); sinh ngày 19/3/2016. Đề nghị giao con cho bà G nuôi dưỡng. Bà G không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của đương sự và không trái quy định pháp luật nên đề nghị ghi nhận.
Dành quyền thăm nom con chung cho ông N theo quy định pháp luật.
- + Về tài sản chung: không có yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
- + Về nợ chung: bà G cho rằng không có; tuy nhiên, do ông N vắng mặt và hiện tại chưa có ai có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết nên chưa giải quyết. Khi nào có ai khởi kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ kiện tranh chấp hôn nhân gia đình về “Ly hôn và nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Xét thấy, bà Lê Thị Ngọc G và ông Nguyễn Trường N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Thấy rằng, mặc dù quan hệ hôn nhân của ông bà được xác lập trên cơ sở tự nguyện; tuy nhiên, trong quá trình chung sống, cả hai xảy ra bất đồng quan điểm, không còn có sự quan tâm, chăm sóc nhau về kinh tế lẫn tinh thần và không còn có sự tin tưởng lẫn nhau; lẽ ra, cả hai vợ chồng phải cùng nhau dung hòa những bất đồng này, nhường nhịn lẫn nhau và cùng nhau phát triển kinh tế gia đình để xây dựng hôn nhân tiến bộ và bền vững nhưng ông bà không làm được điều đó nên dẫn đến hôn nhân đỗ vở là điều tất yếu. Nay bà G yêu cầu yêu cầu ly hôn, còn ông N cho rằng không đồng ý ly hôn nhưng từ khi vợ chồng ly thân đến nay, ông N không đưa ra giải pháp hay có động thái nào để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ lại. Vì vậy, thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà G được ly hôn với ông N là phù hợp.
[3] Về con chung:
Có 01 con chung là Nguyễn Lê Khả H (nữ); sinh ngày 19/3/2016.
Do ông N vắng mặt và không có văn bản thể hiện nguyện vọng nuôi con; bên cạnh đó, cháu Nguyễn Lê Khả H có nguyện vọng sống chung với mẹ nên để ổn định về điều kiện chăm sóc, giáo dục con, cần giao con cho bà G nuôi dưỡng.
Bà G không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của bà G và phù hợp quy định pháp luật nên ghi nhận.
Dành quyền thăm nom con chung cho ông N theo quy định pháp luật.
[4] Về tài sản chung: không có yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
Về nợ chung:
Bà G cho rằng không có; tuy nhiên, do ông N vắng mặt và hiện tại chưa có ai nộp đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết nên chưa giải quyết. Khi nào có ai khởi kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà G phải chịu 300.000đ án phí tranh chấp hôn nhân gia đình.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân gia đình.
- - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Thị Ngọc G.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Ngọc G được ly hôn với ông Nguyễn Trường N.
- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Lê Khả H (nữ); sinh ngày 19/3/2016. Giao con cho bà Lê Thị Ngọc G nuôi dưỡng.
Bà G không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom con chung cho ông Nguyễn Trường N theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ: Chưa giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Ngọc G phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí về tranh chấp hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 300.000₫ theo biên lai số 0003771 ngày 11/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Bà G đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn; kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết đối với bị đơn; các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Trang |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa bà Lê Ngọc G với ông Nguyễn Trường N
