Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ - ST

Ngày 19 - 02 - 2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thế Hải

Ông Mai Đức Danh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2024/TLST- HNGĐ ngày 02/10/2024 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989
  2. Nơi thường trú: TDP T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1987
  4. Nơi thường trú: TDP T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã N vào ngày 29/6/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống có nhiều bất đồng, ngoài ra anh N còn hay rượu, chè về nhà chửi bới vợ con vô cớ, sự việc xảy ra nhiều lần, chị đã phải chịu đựng trong thời gian dài, mặc dù hai bên gia đình đã khuyên bảo nhưng vẫn không cải thiện được, anh N vẫn không thay đổi tính nết. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2024 cho đến nay.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, chị không thể dài cuộc sống chung cùng anh N, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh N.

Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 13/5/2011 và Nguyễn Văn H1, sinh ngày 04/02/2015. Tại đơn khởi kiện chị H yêu cầu khi ly hôn chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, anh N trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa chị H trình bày hiện nay cháu T đang ở với chị, cháu H1 đang ở với anh N, anh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, nên chị yêu cầu khi ly hôn chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, anh N trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, phù hợp với nguyện vọng của cháu T và cháu H1; Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị H kết hôn năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, kể từ tháng 02 năm 2024 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay chị H khởi kiện ly hôn anh xét thấy tình cảm anh dành cho chị H vẫn còn, nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 13/5/2011 và Nguyễn Văn H1, sinh ngày 04/02/2015, bản thân anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con, nếu chị H cương quyết ly hôn và được Tòa án giải quyết cho ly hôn, nguyện vọng của anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ, bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Về hôn nhân giải quyết cho chị H được ly hôn anh N; Về con chung: giao cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 13/5/2011 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 04/02/2015 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chị H và anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung: chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị và anh N, anh N cư trú tại phường T, thị xã N, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh N: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 02 năm 2024 đến nay, nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh N.

Anh N thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, bản thân anh vẫn còn tình cảm với chị H và mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên, thuyết phục chị H và anh N đoàn tụ, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình chăm sóc con chung. Tuy nhiên, chị H vẫn khẳng định bản thân chị không còn tình cảm với anh N, chị không thể kéo dài cuộc sống chung cùng anh N, nên đề nghị giải quyết cho ly hôn.

Căn cứ vào trình bày của chị H và anh N có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị H và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh N xác định vẫn còn tình cảm với chị H và mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh không có biện pháp và cách thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, để hàn gắn tình cảm với chị H, tại phiên tòa chị H vẫn cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[3] Về con chung: chị H và anh N có 02 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 13/5/2011 và Nguyễn Văn H1, sinh ngày 04/02/2015. Chị H đề nghị khi ly hôn chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, giao cháu H1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh N mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung, nếu chị H cương quyết ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy chị H và anh N có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, nên chấp nhận yêu cầu của chị H và anh N giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con và phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; chị H và anh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị H và anh N yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị H khởi kiện vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

    Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

    Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H:
    • - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
    • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 13/5/2011 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
    • Giao cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 04/02/2015 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
    • Chị H và anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002867 ngày 01/10/2024.
  4. Quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND phường Tĩnh Hải;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ - ST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị H ly hôn anh N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger