Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC KẠN

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 08/2025/ HNGĐ - ST

Ngày 18/6/2025

“V/v Ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hứa Đình Hiên và ông Nông Hữu Thái;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 70/2025/TLST-HNGĐ, ngày 26/5/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:09/QÐST-HNGĐ ngày 02/6/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị C; sinh năm 1977.
  • Trú tại: Xóm B, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Ông Tạ Đức Y; sinh năm 1972.
  • Trú tại: Tổ G (Nay là tổ G), phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với ông Tạ Đức Y trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 16/8/2005.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà về chung sống với bố mẹ chồng tại tổ G (Nay là tổ G), phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng do kết hôn đã lâu mà không có con chung nên từ đầu năm 2016 thì vợ chồng bà bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn và ngày càng căng thẳng do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng bà từ lâu đã không còn nói chuyện, trao đổi, chia sẻ tâm tư, tình cảm với nhau, không có sự quan tâm, thấu hiểu lẫn nhau. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm, liên lạc với nhau và không thể hàn gắn được nữa.

Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tạ Đức Y.

  • * Về con chung: Vợ chồng bà không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • * Về tài sản chung: Vợ chồng bà tự thoả thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • * Về vay nợ chung: Vợ chồng bà không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, Biên bản hòa giải tại Tòa án và tại phiên toà, bị đơn ông Tạ Đức Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông kết hôn với bà Trần Thị C trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 16/8/2005.

Sau khi kết hôn vợ chồng ông về chung sống cùng với gia đình ông tại tổ G (Nay là tổ G), phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình chung sống, những năm đầu cuộc sống vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn. Nhưng từ năm 2023 bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do bà C công tác xa nhà ở Trường Tiểu học Đ thuộc xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nên vợ chồng không thường xuyên sinh sống cùng nhau. Hơn nữa do điều kiện công việc cũng như đường sá xa xôi nên mấy năm gần đây ông không thường xuyên đi lại, thăm nom vợ được; bà C cũng không về nhà nữa do vậy tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vợ chồng ông đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm, liên lạc với nhau nữa.Tuy nhiên ông xác định, bản thân ông vẫn còn tình cảm với vợ, giữa hai vợ chồng cũng không có mâu thuẫn gì lớn nên ông không đồng ý ly hôn với bà C.

  • * Về con chung: Vợ chồng ông không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • * Về tài sản chung: Vợ chồng ông tự thoả thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • * Về vay nợ chung: Vợ chồng ông không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa trong quá trình tố tụng, xây dựng hồ sơ và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đã đảm bảo đúng quy định. Tại phiên toà, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Trần Thị C, xử cho bà Trần Thị C được ly hôn với ông Tạ Đức Y.

Về con chung: Bà C và ông Y không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về tài sản chung: Bà C và ông Y tự thoả thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về vay nợ chung: Bà C và ông Y không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Bà Trần Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn”, bị đơn ông Tạ Đức Y có địa chỉ cư trú tại tổ G (Nay là tổ G), phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị C và ông Tạ Đức Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 16/8/2005 nên xác định hôn nhân của bà C và ông Y là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, bà C có lời khai: Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc nhưng từ đầu năm 2016 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn và ngày càng căng thẳng do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không thể hàn gắn được nữa. Bà C và ông Y đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm, liên lạc với nhau và không thể hàn gắn được nữa.

Nay bà C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tạ Đức Y.

Về phía bị đơn ông Tạ Đức Y: Trong quá trình làm việc tại Tòa án, ông Y cũng có lời khai: Quá trình chung sống, những năm đầu cuộc sống vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn. Nhưng từ năm 2023 bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do bà C công tác xa nhà ở Trường tiểu học Đ thuộc xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nên vợ chồng không thường xuyên sinh sống cùng nhau. Hơn nữa do điều kiện công việc cũng như đường sá xa xôi nên mấy năm gần đây ông không thường xuyên đi lại, thăm nom vợ được; bà C cũng không về nhà nữa do vậy tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vợ chồng ông đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm, liên lạc với nhau nữa.Tuy nhiên ông xác định, bản thân ông vẫn còn tình cảm với vợ, giữa hai vợ chồng cũng không có mâu thuẫn gì lớn nên ông không đồng ý ly hôn với bà C.

Tòa án đã gặp Tổ trưởng tổ G, phường Đ, thành phố B và Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ tổ G, phường Đ, thành phố B để xác minh về quan hệ hôn nhân của bà Trần Thị C và ông Tạ Đức Y. Qua trao đổi chúng tôi được cung cấp thông tin như sau: Bà Trần Thị C và ông Tạ Đức Y kết hôn với nhau từ năm 2005. Sau khi kết hôn ông bà chung sống với gia đình ông Y và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ G (Nay là tổ G), phường Đ, thành phố B. Thời gian đầu ông bà sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng từ năm 2023, giữa bà C với ông Y xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay.Trong thời gian ly thân bà C không về sống với ông Y tại tổ G, phường Đ, thành phố B nữa. Hai bên không còn đi lại, quan tâm, liên lạc, hỏi han nhau nữa.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà C với ông Y là có thực tế và đã đến mức trầm trọng. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân hai bên không còn quan tâm, liên lạc với nhau nữa, đời sống chung đã không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho ông bà. Mặc dù ông Y không đồng ý ly hôn với bà C nhưng thực tế thì trong thời gian ly thân vừa qua, ông Y đã bỏ mặc, không có động thái gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Còn bà C thì đã xác định rõ không còn tình cảm với ông Y và không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với ông Y nữa nên kiên quyết xin được ly hôn. Xét thấy việc bà C xin ly hôn với ông Y là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà Trần Thị C và ông Tạ Đức Y có lời khai thống nhất vợ chồng ông bà không có con chung, do vậy HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Bà Trần Thị C và ông Tạ Đức Y thống nhất vợ chồng tự thoả thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về nợ chung: Bà Trần Thị C và ông Tạ Đức Y xác nhận vợ chồng không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[6]Về án phí: Bà Trần Thị C phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, các Điều 35, 39, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn Trần Thị C. Bà Trần Thị C được ly hôn với ông Tạ Đức Y.
  2. Về con chung: Bà Trần Thị C và ông Tạ Đức Y không có con chung.
  3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị C và ông Tạ Đức Y tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  4. Về vay nợ chung: Bà Trần Thị C và ông Tạ Đức Y không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  5. Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị C phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà C đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000732 ngày 26/5/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Bà Trần Thị C đã nộp đủ tiền án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND TP Bắc Kạn;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Kạn;
  • - UBND phường Đức Xuân, TP BK (Nơi ĐKKH);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu VT.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger