Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18-3-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

chung khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Nam Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Dương Thị Cúc
  • Ông Triệu Tiến Lả

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị L, sinh năm 1982. Vắng mặt. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn

Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

- Bị đơn: Anh Vy Văn Q (Tức Vi Văn Q1), sinh năm 1976. Vắng mặt. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Lưu Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị L được tự do, tự nguyện tìm hiểu với anh Vy Văn Q và được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân V1, huyện B, tỉnh Lạng Sơn ngày 21/04/2009.

Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống tại thôn N, nay là thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, anh Q thường xuyên chửi bới nên chị Lưu Thị L đã về bên gia đình nhà ngoại tại xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để trồng trọt trên đất của em trai cho mượn. Qua trình đi làm vẫn về gia đình. Tuy nhiên, anh Vy Văn Q thường xuyên ghen tuông, nên càng mâu thuẫn trầm trọng. Từ khoảng đầu năm 2023 đến nay chị Lưu Thị L không về gia đình. Hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm chăm sóc ai. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị giữ nguyên quan điểm yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Vy Văn Q.

Quá trình chung sống vợ chồng có người con Vy Hồng S, sinh ngày 13/02/2009. Tại đơn khởi kiện chị Lưu Thị L yêu cầu được quyền nuôi con chung và không yêu cầu anh Vy Văn Q cấp dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, chị Lưu Thị L thay đổi quan điểm, khi ly hôn chị Lưu Thị L không nhận quyền nuôi con. Yêu cầu anh Vy Văn Q là người nuôi con chung, chị Lưu Thị L không cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung vợ chồng: Không có. Chị Lưu Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt trong toàn bộ vụ án.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/01/2024, anh Vy Văn Q trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Về việc đăng ký kết hôn, tự do tìm hiểu như chị Lưu Thị L trình bày. Xác nhận chị Lưu Thị L về nhà ngoại làm nông nghiệp được khoảng 08 năm, tuy nhiên 04 năm gần đây chị L không về gia đình, hai người không sinh hoạt vợ chồng, không sống chung thực tế được khoảng 8 năm. Do con còn nhỏ nên anh không đồng ý ly hôn, nếu khi con trai lấy vợ chị Lưu Thị L vẫn yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý thuận tình ly hôn.

Về con chung có 01 người con chung như chị Lưu Thị L trình bày. Nếu phải ly hôn anh yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung; Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung vợ chồng: Không có. Anh Vy Văn Q yêu cầu tòa án giải quyết xét xử vắng mặt trong toàn bộ vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Lưu Thị L và anh Vy Văn Q đều xác nhận anh Vy Văn Q có tên gọi khác là “Vi Văn Q1".

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn vắng mặt nên tòa án không tiến hành phiên họp.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của cháu Vy Hồng S với nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì có nguyện vọng ở với bố.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn. Bị đơn thực hiện đầy đủ, bảo đảm đúng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị Lưu Thị L và anh Vy Văn Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lưu Thị L được ly hôn với anh Vy Văn Q; Về con chung: Căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Vy Hồng S, sinh ngày 13/02/2009 cho anh V văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi đủ 18 tuổi (trưởng thành). Chị Lưu Thị L không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung và có quyền đi lại hỏi thăm con chung không ai được cản trở; Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét; về nợ chung vợ chồng: Các đương sự nêu không có nợ chung nên không xem xét. Về án phí: Chị Lưu Thị L là dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lưu Thị Lường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Lưu Thị L yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với anh Vy Văn Q có địa chỉ tại thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Tòa án nhân dân huyện Bình Gia thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn có văn bản trình bày quan điểm đối với toàn bộ nội dung vụ án và có yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết đã tống đạt đầy đủ, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ cho đương sự theo quy định. Do đó, việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Theo quy định tại khoản 1, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt, nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.

[3] Về việc thay đổi yêu cầu về nuôi con chung: Quá trình thụ lý vụ án nguyên đơn thay đổi quan điểm không nhận quyền nuôi con và yêu cầu bị đơn nuôi con chung và không cấp dưỡng. Xét thấy việc thay đổi quan điểm của nguyên đơn vẫn nằm trong phạm vi quan hệ tranh chấp nuôi con chung không vượt quá phạm vi khởi kiện. Căn cứ vào quy định tại Điều 5, khoản 2 Điều 71, khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được HĐXX xem xét chấp nhận.

[4]Về các tài liệu chứng cứ không cần phải chứng minh: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận khoảng 8 năm chị Lưu Thị L không thường xuyên về gia đình, khoảng 3 năm gần đây thì chị Lưu Thị L không về gia đình và hai vợ chồng sống ly thân. Đây là nội dung các đương sự đều thừa nhận nên là tài liệu không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị L và anh Vy Văn Q được tự do kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định là hôn nhân hợp pháp. Qua xác minh tại trưởng thôn Đoàn kết và văn bản trả lời của Công an xã H thể hiện hai người không chung sống với nhau được khoảng 3 năm gần đây. Lời khai của bị đơn thể hiện hai vợ chồng không chung sống thực tế, không sinh hoạt vợ chồng được khoảng 08 năm. Như vậy, có thể xác định thời gian chính thức sống ly thân là 03 năm. Nhận thấy, giữa hai bên đương sự có quá trình sống ly thân đã lâu. Quá trình sống ly thân các đương sự đều không có hành động thể hiện mong muốn quan tâm và hàn gắn tình cảm vợ chồng thể hiện việc không còn tình cảm vợ chồng. Việc bị đơn không đồng ý ly hôn chỉ vì muốn lo cho con trai lập gia đình là không có căn cứ, quan hệ hôn nhân và quan hệ chăm sóc giữa cha mẹ và con là hai quan hệ độc lập. Như vậy, căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Lưu Thị L và anh Vy Văn Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để giải quyết cho chị Lưu Thị L được ly hôn với anh Vy Văn Q.

[6] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là Vy Hồng S Nhận thấy, thời gian sống ly thân con chung do anh Vy Văn Q nuôi dưỡng và phát triển bình thường, phù hợp với biên bản xác minh tại trưởng thôn Đoàn kết, công an xã H. Tại biên bản xác minh thể hiện anh Vy Văn Q có nhà cửa, hàng tháng được hưởng chế độ thương tật nhưng chỉ là đi lại bị ảnh hưởng do khuyết tật chân nhưng vẫn lao động được đủ khả năng nuôi con đồng thời hiện nay con chung đã bỏ học ở nhà phụ giúp anh Vy Văn Q, Chị Lưu Thị L hiện nay không có nhà ở, sống nhờ gia đình nhà ngoại. Do đó, xét điều kiện nuôi dưỡng, hoàn cảnh sống phù hợp với sự phát triển của con chung và nguyện vọng của con chung và quan điểm của anh Vy Văn Q2 và chị Lưu Thị Lường. Căn cứ theo quy định tại Điều 81 luật Hôn nhân gia đình có căn cứ chấp nhận giao con chung cho anh Vy Văn Q trực triếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục con chung đến khi đủ 18 tuổi.

[7] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung phù hợp với quan điểm của bị đơn không yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Do đó, có căn cứ chấp nhận nguyên đơn không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

[8] Về tài sản chung vợ chồng: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về nợ chung vợ chồng: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều xác định không có nợ chung vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Chị Lưu Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Tuy nhiên, chị Lưu Thị L là dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ vào Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lưu Thị Lường.

[11] Quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[12] Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thị L được ly hôn với anh Vy Văn Q.
  2. Về con chung: Giao con chung là Vy Hồng S, sinh ngày 13/02/2009 cho anh Vy Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi đủ 18 tuổi (trưởng thành). Chị Lưu Thị L không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Trường hợp cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí: Chị Lưu Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND H. Bình Gia;
  • - Chi cục THADS H. Bình Gia;
  • - UBND xã Vạn Thủy, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
  • (Nơi đăng ký kết hôn);
  • - Các đương sự (Theo địa chỉ);
  • - Lưu: HS + Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Nam Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lưu Thị L được tự do, tự nguyện tìm hiểu với anh Vy Văn Q và được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân V1, huyện B, tỉnh Lạng Sơn ngày 21/04/2009. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống tại thôn N, nay là thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuần, anh Q thường xuyên chửi bới nên chị Lưu Thị L đã về bên gia đình nhà ngoại tại xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để trồng trọt trên đất của em trai cho mượn. Qua trình đi làm vẫn về gia đình. Tuy nhiên, anh Vy Văn Q thường xuyên ghen tuông, nên càng mâu thuẫn trầm trọng. Từ khoảng đầu năm 2023 đến nay chị Lưu Thị L không về gia đình. Hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm chăm sóc ai. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị giữ nguyên quan điểm yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Vy Văn Q.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger