|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15-4-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Ngọc Tấn;
- Bà Nguyễn Thị Kim Tước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Huế Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 119/2024/TLST-HN, ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXX-ST, ngày 12 tháng 3 năm 2025 và theo Quyết định hoãn số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1972; (Có mặt)
- Trú tại: khu vực A, phường H, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang
- - Bị đơn: Ông Lý M, sinh năm 1971; (Vắng mặt)
- Trú tại: khu vực B, phường T, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị T trình bày:
Bà và ông M quen biết và tự nguyện kết hôn năm 2006, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H vào năm 2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn kéo dài ngày một trầm trọng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Lý M.
Về con chung: Bà và ông M có 02 con chung tên là Lý Thị Hồng N (nữ), sinh ngày 16/9/1992 và Lý Hoàng D (nam), sinh ngày 12/6/2000. Con chung hiện đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lý M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án; không cung cấp lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn Võ Thị T được ly hôn với bị đơn Lý M. Về con chung: Đã trưởng thành không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông M quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian rồi đi đến hôn nhân. Ông bà được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2006 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do xuất phát từ việc tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày một trầm trọng nên nguyên đơn và bị đơn không thể hàn gắn. Hiện nay bà T và ông M mỗi người có một cuộc sống riêng. Nhận thấy bà T và ông M đã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà T được ly hôn với ông M theo quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Bà T và ông M có 02 con chung tên là Lý Thị Hồng N, sinh ngày 16/9/1992 và Lý Hoàng D, sinh ngày 12/6/2000. Con chung hiện đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn bà Võ Thị T được ly hôn với bị đơn ông Lý M.
- Về con chung: Có 02 con chung tên là Lý Thị Hồng N (nữ), sinh ngày 16/9/1992 và Lý Hoàng D (nam), sinh ngày 12/6/2000. Con chung hiện đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Võ Thị T phải chịu là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005872 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Cương |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lữ Văn Công |
Nguyễn Văn Hải |
THẨM PHÁN – Huỳnh Kim Cương |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị T trình bày: Bà và ông M quen biết và tự nguyện kết hôn năm 2006, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H vào năm 2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn kéo dài ngày một trầm trọng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Lý M. Về con chung: Bà và ông M có 02 con chung tên là Lý Thị Hồng N (nữ), sinh ngày 16/9/1992 và Lý Hoàng D (nam), sinh ngày 12/6/2000. Con chung hiện đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn ông Lý M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án; không cung cấp lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn Võ Thị T được ly hôn với bị đơn Lý M. Về con chung: Đã trưởng thành không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
