1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15-4-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Đàm Quang Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Thùy Trang
- - Bà Trần Thị Bích Thủy
Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 136/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa 06/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Thị Mỹ H, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi
Bị đơn: Anh Lâm Thanh D, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi
Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/9/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ H trình bày: Chị và anh Lâm Thanh D tìm hiểu yêu thương nhau được hơn 01 năm rồi tổ chức lễ cưới, chị và anh D có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào ngày 28/5/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh D ăn chơi, không chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã sống không hạnh phúc. Chị và anh D đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 cho đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh Lâm Thanh D.
Về con chung: Chị và anh D có 01 con chung là Lâm Cao T, sinh ngày 14/10/2021. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn Lâm Thanh D nhưng anh D không có ý kiến gì về nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ; không đến Tòa án làm việc và tham gia phiên tòa theo thông báo, giấy triệu tập của Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định tại các Điều 70, 71; bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ H; cho chị Cao Thị Mỹ H được ly hôn anh Lâm Thanh D;
- + Về con chung: Giao 01 con chung tên Lâm Cao T, sinh ngày 14/10/2021 cho chị Cao Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; anh Lâm Thanh D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
Ngoài ra các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Nguyên đơn Cao Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” với bị đơn Lâm Thanh D. Trong vụ án này, bị đơn anh D có địa chỉ nơi cư trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định đây là vụ án “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
[1.2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ H và bị đơn anh Lâm Thanh D tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện M vào ngày 28/5/2019, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh D là hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị Mỹ H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị H và anh D tự nguyện kết hôn nhưng quá trình chung sống do tính cách không hợp nhau, có nhiều bất đồng trong cuộc sống nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, hôn nhân không có hạnh phúc. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 cho đến nay, theo chị H thì chị đã cho anh D nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng anh D vẫn không thay đổi được, vợ chồng chị không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn. Trong thời gian sống ly thân, chị H và anh D phần ai người đó sống, không quan tâm, chăm sóc gì lẫn nhau là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Mặc khác, sau khi thụ lý vụ án, anh D đã được Tòa án thông báo về việc chị H có yêu cầu ly hôn, nuôi con chung, nhưng anh D không hợp tác làm việc, bỏ mặc không quan tâm đến ý kiến, yêu cầu của chị H và việc giải quyết vụ án của Tòa án. Thực tế trên đã xác định, tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị H và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cho chị H được ly hôn anh D là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng cho con:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của nguyên đơn, có căn cứ xác định: Chị Cao Thị Mỹ H và anh Lâm Thanh D có 01 con chung tên Lâm Cao T, sinh ngày 14/10/2021. Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay thì con chung sinh sống cùng với chị H, anh D không có ý kiến gì về nuôi dưỡng con chung. Hơn nữa cháu T còn quá nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó, để đảm bảo ổn định về cuộc sống và các điều kiện phát triển về mọi mặt của con chưa thành niên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T cho chị H chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là hoàn toàn hợp lý.
Về cấp dưỡng cho con: Chị H yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Căn cứ vào khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha mẹ và con. Do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn cấp dưỡng cho con là hợp lý, nhưng nguyên đơn yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng là có phần cao so với mức chi phí bình quân cho việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4 năm 2025 và chấm dứt khi phát sinh một trong các trường hợp theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có, anh D không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí:
Chị Cao Thị Mỹ H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân.
Anh Lâm Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ.
[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147,227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 và 118 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ H.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Mỹ H được ly hôn anh Lâm Thanh D
1.2 Về con chung:
- Giao con chung tên Lâm Cao T, sinh ngày 14/10/2021 cho chị Cao Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Lâm Thanh D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4 năm 2025 và chấm dứt khi phát sinh một trong các trường hợp theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Anh Lâm Thanh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Chị Cao Thị Mỹ H khai không có, anh Lâm Thanh D không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xét
2. Về án phí: Chị Cao Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do chị H nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004536 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Anh Lâm Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Huỳnh Thị Thùy Trang Trần Thị Bích T1 | Đàm Quang Hiệp |
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Quang Hiệp |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lh, nuôi con
