TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/4/2025 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Mậu Hiệu và bà Mai Thanh Huyền;
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 118 /2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hương T, sinh năm 2002; địa chỉ: Đ, thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình – vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
Bị đơn: Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình – có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hương T trong bản tự khai ngày 05/02/2025, ngày ngày 27/03/2025 và trong đơn xin xét xử vắng mặt trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Văn Tình Y nhau và đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 29/3/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với gia đình chồng tại thôn T, xã T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả làm sứt mẻ tình cảm. Dù đã nhiều lần chị T khuyên răn chồng thay đổi, bố mẹ hai bên gia đình đã tổ chức hoà giải để khuyên răn tuy nhiên anh T1 vẫn không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 06/2024 cho đến nay. Quá trình chị T về nhà mẹ đẻ để sinh sống, anh T1 cũng đã có lần sang nhà chửi bởi, đe doạ cuộc sống của chị T. Xác định tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể kéo dài nên chị T xin ly hôn anh Đặng Văn T1.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung tên là Đặng Hương T2, sinh ngày 11/4/2020 và Đặng Hương G, sinh ngày 01/03/2023. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Đặng Hương T2, giao con Đặng Hương G1 cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Bị đơn anh Đặng Văn T1 trong bản tự khai ngày 24/03/2025 và tại phiên tòa trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T yêu nhau và đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 29/3/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân nên cuộc sống vợ chồng thường xảy ra nhiều cãi vả. Mặc dù đã được bố mẹ hai bên gia đình tổ chức hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không mang lại kết quả gì. Đầu tháng 9 năm 2024 chị T tự ý ôm con bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên chị T đề nghị ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: Anh thừa nhận vợ chồng anh có 02 con chung tên là Đặng Hương T2, sinh ngày 11/4/2020 và Đặng Hương G, sinh ngày 01/03/2023. Ly hôn, anh T1 có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Đặng Hương G, giao con Đặng Hương T2 cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hương T xin ly hôn anh Đặng Văn T1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hương T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án đã tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Hương T và anh Đặng Văn T1 kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 29/3/2022 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
[3] Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, sau khi kết hôn, vợ chồng chị T chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả làm sứt mẻ tình cảm. Anh T1 thường xuyên tụ tập ăn uống cùng bạn bè, buông lời chửi bới, đe doạ chị T. Chị T đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T1 vẫn không thay đổi. Hôn nhân không còn hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2024. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị T đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1. Anh Đặng Văn T1 cũng thừa nhận mâu thuẫn của vợ chồng như lời trình bày của chị T. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng đã hết nên chị T xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
[4] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo thừa nhận của các bên thì, mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị Nguyễn Thị Hương T và anh Đặng Văn T1 thực tế đã xảy ra, do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống khiến. Quá trình chung sống cũng như quá trình sống ly thân, anh T1 có lời nói đe doạ, xúc phạm chị T và gia đình chị T. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau, anh T1 đã có hành vi xúc phạm, làm tổn hại đến danh dự, tổn thất về tinh thần của T, chị T đã phải bỏ về nhà mẹ đẻ khiến cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình, Điều 4 nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Hương T được ly hôn với anh Đặng Văn T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về nuôi con chung: Theo chị Nguyễn Thị Hương T trình bày thì trong thời gian chung sống, chị và anh T1 có hai người con chung tên là Đặng Hương T2, sinh ngày 11/4/2020, hiện đang sống cùng chị T và Đặng Hương G, sinh ngày 01/03/2023, hiện đang sống cùng với anh T1. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con Đặng Hương T2, giao con Đặng Hương G cho anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Anh T1 đồng ý với nguyện vọng về nuôi con chung của chị T. Xét thấy, cháu Đặng Hương G còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), đang sống ổn định cùng với anh T1 và anh T1 có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con. Do đó, Hội đồng xét xử giao con Đặng Hương T2 cho chị T, giao con Đặng Hương G cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T, anh T1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai là phù hợp với nguyện vọng của các bên đương sự vừa đảm bảo sự ổn định về môi trường sống của con sau khi cha mẹ ly hôn.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hương T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Hương T được ly hôn với anh Đặng Văn T1.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Đặng Hương T2, sinh ngày 11/04/2020 cho chị Nguyễn Thị Hương T, giao con Đặng Hương G, sinh ngày 01/03/2023 cho anh Đặng Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Sau này nếu điều kiện thay đổi, vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hương T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004499 ngày 20/12/2024 (chị Nguyễn Thị Hương T đã nộp đủ án phí). Bị đơn anh Đặng Văn T1 không phải chịu án phí.
5. Quyền kháng cáo: Anh Đặng Văn T1 có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/04/2025), chị Nguyễn Thị Hương T vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Lưu VP; Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hương T và anh Đặng Văn T ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
