Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐỐP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 4 - 2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi

con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP - TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều My
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Rạng và bà Điểu Thị Hương
Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Thắng - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên tòa:
Lê Thị Thanh Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 07/2028/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Cao Kim T, sinh năm 1994 - Có mặt
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng

Bị đơn: Ông Phạm Hữu T1, sinh năm 1997 - Vắng mặt
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn yêu cầu ly hôn ghi ngày 12 tháng 6 năm 2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Cao Kim T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Kim T và ông Phạm Hữu T1 tự nguyện kết hôn năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn, cả hai vợ chồng sống tại ấp C, xã T, huyện B. Sau 02 năm thì cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Nay bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T và ông T1 có 01 con chung tên Phạm Cao N, sinh ngày 12/9/2020. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Hữu T1 trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Cao Kim T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Hữu T1; yêu cầu nuôi 01 con chung chưa thành niên tên Phạm Cao N đến khi con chung đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Phạm Hữu T1 vắng mặt, không có ý kiến trình bày tại phiên tòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và về nội dung vụ án:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ ý kiến trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét đơn yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Cao Kim T thuộc trường hợp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú tại ấp C, xã T, huyện B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Đốp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Phạm Hữu T1 mặc dù Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho người thân thích cùng nơi cư trú của ông T1 (gồm cha và mẹ) nhận thay nhưng ông T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án:

Bà Cao Kim T và ông Phạm Hữu T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Xét đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành giao nhận các văn bản tố tụng cho người thân tích của ông T1 (gồm cha đẻ là ông Phạm Văn T2 và mẹ đẻ là bà Lê Thị Bé N1) nhận thay nhưng ông T1 không đến Toà án để làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Toà án. Tuy nhiên, qua việc giao văn bản tố tụng cũng thể hiện ông T1 đã biết việc bà T yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con chung.

Theo kết quả xác minh ngày 08/8/2024 tại nơi cư trú (ấp C, xã T) về tình trạng hôn nhân, thu nhập, nghề nghiệp của bà T, ông T1 cho thấy: Sau khi kết hôn thì ông T1 bà T về chng sống cùng gia đình bên chồng tại ấp C, xã T, có 01 con chung. Về sau bà T không còn sống cùng gia đình chồng khoảng 03 năm nay, còn ông T1 vẫn sinh sống ở ấp C, xã T cùng cha mẹ. Mâu thuẫn giữa 02 vợ chồng thì ấp không năm rõ. Đồng thời tại biên bản xác minh đối với những người thân thích của ông T1 cũng thể hiện: hiện nay ông T1 và bà T hiện không còn chung sống cùng nhau, mâu thuẫn như thế nào gia đình không rõ.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của bà T, ông T1 đã trầm trọng, vợ chồng không còn chung sống cùng nhau, không chung tay xây dựng kinh tế gia đình và nuôi dưỡng con cái, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở, cần được chấp nhận.

Trong quá trình chung sống, bà T, ông T1 có 01 con chung tên Phạm Cao N, sinh ngày 12/9/2020. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh về nghề nghiệp và thu nhập của bà T cho thấy bà T có công việc ổn định thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng và bà T có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cháu N đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét thấy, tại phiên tòa ông T1 vắng mặt cũng như trong quá trình giải quyết vụ án ông T1 không có ý kiến trình bày về việc yêu cầu được nuôi con chung và hiện nay cháu N còn nhỏ (sinh năm 2020), đang do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, việc giao con chung cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là cần thiết, đảm bảo được cuộc sống ổn định của con chưa thành niên. Vì vậy, yêu cầu nuôi con chung của bà T cần được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Cao Kim T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • - Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Kim T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Kim T được ly hôn với ông Phạm Hữu T1.
  2. Về con chung: Giao con chung Phạm Cao N, sinh ngày 12/9/2020 cho bà T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Cao Kim T phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đốp theo biên lai số 0007199 ngày 25/11/2024.
  2. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đốp;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Đốp;
  • - UBND xã Thạnh Phú, h.Mỹ Xuyên, t. Sóc Trăng
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Kiều My

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP - TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP - TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Kim T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger