Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13-02-2025

V/v ly hôn giữa bà A và ông T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trịnh Thị Kim Quyên.
  2. Ông Nguyễn Văn Út.

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 634/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QÐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Trương Thị Thúy A, sinh năm: 1991 (có mặt);
  2. Địa chỉ: 3 ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bị đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1977 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/10/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trương Thị Thúy A trình bày:

Về hôn nhân: bà A và ông T tổ chức lễ cưới vào tháng 8/2015, có thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54/2015, quyển số 01/2015 ngày 06/7/2015. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông T nhiều lần nói dối và không trung thực, có nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, không tôn trọng nhau, thiếu trách nhiệm với nhau, làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không ai có thiện chí nên hôn nhân không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay. Do đó, bà A yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T: sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thực hiện thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để ông T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông T không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà A, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Bà Trương Thị Thúy A khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T, ông T có nơi đăng ký thường trú tại xã P, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    2. Ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung tranh chấp:
    1. Về hôn nhân: bà Trương Thị Thúy A và ông Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54/2015, quyển số 01/2015 ngày 06/7/2015 nên xác định hôn nhân giữa bà A và ông T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà A trình bày, sau khi cưới, vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông T nhiều lần nói dối và không trung thực, có nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, không tôn trọng nhau, thiếu trách nhiệm với nhau, làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không ai có thiện chí nên hôn nhân không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay. Đối với ông T, ông T không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà A, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án. Điều này chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà A. Tại phiên tòa, bà A vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà A và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A đối với ông T.
    2. Về con chung: bà A trình bày không có, ông T không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    3. Về tài sản chung và nợ chung: bà A trình bày không có, ông T không có ý kiến phản hồi về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí, lệ phí:
    1. Về án phí: bà A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    2. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: bà A tự nguyện chịu 4.650.000 đồng theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà A đã thanh toán xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Thúy A về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T.

  1. Về hôn nhân: bà Trương Thị Thúy A được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
  2. Về án phí: bà Trương Thị Thúy A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T1 đã nộp theo biên lai thu số 0012738 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà A đã nộp đủ.
  3. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện C;
  • - THADS huyện C;
  • - UBND xã P, huyện C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thủy Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN về ly hôn giữa bà a và ông t

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn giữa bà A và ông T
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger