Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày 12-06-2025

“V/v ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thạch
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Sơn
  • Bà Hoàng Thị Thu Lâm
  • Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 04/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc "Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 05 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HPT ngày 26 tháng 05 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Nguyễn Mỹ Y, sinh ngày: 09-06-1991; nơi cư trú: Thôn N, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt tại phiên tòa)
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Duy N, sinh ngày: 28-07-1989; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ Y trình bày như sau:

- Về tình cảm: Chị với anh Nguyễn Duy N tự do tìm hiểu kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 06-04-2012 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là UBND xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận khoảng được 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có con chung nên không có sợi dây tình cảm gắn kết tình cảm giữa vợ chồng và bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cải vã, chồng thường xuyên đánh đập vợ. Mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng nên năm 2017 chị Y bỏ về nhà mẹ đẻ tại Thôn N, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh sinh sống. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay không quan tâm gì đến nhau từ thời điểm đó cho đến nay. Nay, chị Nguyễn Mỹ Y nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Y yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Duy N.

- Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung, chị Nguyễn Mỹ Y có con riêng nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Mỹ Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của bị đơn

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Duy N đã được Tòa án tống đạt các văn bản thủ tục tố tụng theo luật định nhưng vắng mặt không có lý do trong các buổi làm việc như lấy lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Nguyễn Duy N.

Tòa án tiến hành xác minh tại Công an phường K, thị xã K, xác nhận: Bị đơn anh Nguyễn Duy N, sinh ngày: 28-7-1989, thẻ căn cước công dân số: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH –Bộ C; Nơi cư trú, thường trú và chổ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại, anh N chưa chuyển khẩu và cũng không có nơi đăng ký tạm trú tại nơi khác. Tại thời điểm xác minh, anh Nguyễn Duy N vẫn đang sinh sống, làm việc tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Mỹ Y được ly hôn với anh Nguyễn Duy N; Về con chung: Chưa có con chung nên đề nghị miễn xét; Về tài sản, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Mỹ Y có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Duy N. Anh Nguyễn Duy N có đăng ký nơi cư trú và chỗ ở hiện nay tại Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn anh Nguyễn Duy N có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Duy N như thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập làm việc...nhưng bị đơn anh Nguyễn Duy N không đến Tòa án để làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi bằng văn bản, chứng tỏ anh N cố tình né tránh nghĩa vụ tham gia tố tụng. Việc bị đơn không tham gia tố tụng là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình theo Điều 91, Điều 92 Bộ luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Duy N vắng mặt lần thứ hai không có lý do tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án để giải quyết theo luật định.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về hôn nhân:

Hội đồng xét xử nhận thấy, chị Nguyễn Mỹ Y và anh Nguyễn Duy N tự do tìm hiểu kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 06-04-2012 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là UBND xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận khoảng được 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có con chung nên không có sợi dây tình cảm gắn kết tình cảm giữa vợ chồng và bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cải vã, anh N thường xuyên đánh đập chị Y nên năm 2017 chị Y bỏ về nhà mẹ đẻ tại Thôn N, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh sinh sống từ đó cho đến nay không quan tâm gì đến nhau, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, điều đó chứng tỏ vợ chồng có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc duy trì cuộc sống vợ chồng, hạnh phúc gia đình với nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Mỹ Y và anh Nguyễn Duy N không còn, mâu thuẫn gia đình trầm trọng và nếu tiếp tục kéo dài cuộc sống thì mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho chị Nguyễn Mỹ Y được ly hôn anh Nguyễn Duy N.

[3.2]. Về con chung: Chị Nguyễn Mỹ Y với anh Nguyễn Duy N chưa có con chung với nhau nên chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4]. Về án phí: Chị Nguyễn Mỹ Y là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Mỹ Y. Cho chị Nguyễn Mỹ Y được ly hôn với anh Nguyễn Duy N.

2. Về án phí:

Buộc chị Nguyễn Mỹ Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khẩu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008469 ngày 19-02-2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc T

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Ngọc Thạch

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh;
  • - Lưu Hồ sơ; VP-TA.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 08 giờ 10 phút, ngày 30 tháng 9 năm 2024

Tại: Phòng nghị án trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc T

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh N1

Bà Lê Thị Cẩm V

Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 26/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, giữa:

Nguyên đơn Bà Mai Thị Huyền S

Bị đơn Ông Mai Châu B

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án

- Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Mai Châu B vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Kết quả biểu quyết 3/3, đạt 100%.

2. Về điều luật áp dụng

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Kết quả biểu quyết 3/3, đạt 100%.

3. Quyết định giải quyết.

3.1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Mai Thị Huyền S với ông Mai Châu B

Kết quả biểu quyết 3/3, đạt 100%.

3.2. Về nuôi con chung:

Chưa có con chung, không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả biểu quyết 3/3, đạt 100%.

3.3. Về tài sản:

Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả biểu quyết 3/3, đạt 100%.

4. Các vấn đề khác

4.1. Về án phí:

Bà Mai Thị Huyền S phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0008401 ngày 01/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh.

4.2. Về quyền kháng cáo bản án:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng.

Kết quả biểu quyết tất cả các vấn đề trên: 3/3 đồng ý.

Không có thành viên Hội đồng xét xử nào có ý kiến khác.

Nghị án kết thúc vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 9 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thạch

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger