Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/02/2025.

V/v: “Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trịnh Ngọc Hồng.
  2. Ông Trần Văn Hưng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diễm Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Trong ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 401/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/01/2025. Giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Thanh D, sinh năm 1966 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số E, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
    Ông D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Bà Lê Thị T (Lê Thị Hồng T), sinh năm 1968 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số E, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 30/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Thanh D trình bày: Ông D và bà T do tự tìm hiểu quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã B (nay là phường P, thành phố B), tỉnh Bến Tre vào ngày 03/8/1995. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc khoảng thời gian đầu nhưng đến khoảng năm 2020 thì đã phát sinh rất nhiều mâu thuẫn mất hạnh phúc do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau; ông và bà T đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà T để mỗi người có cuộc sống riêng. Về con chung: thời gian sống chung, ông và bà T có với nhau 01 con chung là Trần Thanh Đ, sinh ngày 26/5/1995; con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: ông và bà T tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: không có.

Bị đơn bà Lê Thị T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Nguyên đơn ông Trần Thanh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà Lê Thị T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông D và bà T là phù hợp.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: ông Trần Thanh D và bà Lê Thị T trên cơ sở quen biết nhau trước nên cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã B (nay là phường P, thành phố B), tỉnh Bến Tre vào ngày 03/8/1995. Xét thấy, hôn nhân của ông D và bà T đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, ông D và bà T có thời gian sống hạnh phúc và có với nhau 01 con chung nhưng vì những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình mà đã dẫn đến việc ông D xin ly hôn. Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông D cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Do đó, ông yêu cầu được ly hôn với bà T để mỗi người có cuộc sống riêng. Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mời ông D và bà T đến Tòa án nhiều lần để tiến hành hòa giải hôn nhân của ông bà nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ bà T không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng với ông D. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: ông D và bà T là vợ chồng nhưng ông bà không quan tâm, giúp đỡ nhau để tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt mà ông bà lại bỏ mặc nhau, không quan tâm chăm sóc cho nhau, đã ly thân từ năm 2020 đến nay nên ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông D là phù hợp.
  3. [3] Về con chung: thời gian sống chung, ông D và bà T có với nhau 01 con chung là Trần Thanh Đ, sinh ngày 26/5/1995. Xét thấy, con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. [4] Về tài sản chung: ông D trình bày là ông và bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, bà T cũng không có văn bản trình bày ý kiến và đơn tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn với ông D nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. [5] Về nợ chung: ông D trình bày là không có. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, bà T cũng không có văn bản trình bày là bà và ông D có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  6. [6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: ông D phải chịu do ông D yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Thanh D. Ông Trần Thanh D và bà Lê Thị T (Lê Thị Hồng T) được ly hôn với nhau.

Về con chung: có 01 con chung là Trần Thanh Đ, sinh ngày 26/5/1995 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: ông D trình bày là ông và bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: ông D trình bày là không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Trần Thanh D phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005279 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre nên ông không còn phải nộp thêm.

Án phí sung vào công quỹ Nhà nước.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre;
  • - UBND phường P, thành phố Bến Tre;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Thanh D ly hôn với bà Lê Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger