TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày 11 tháng 4 năm 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor Jưh
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chế Công Nghị và bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 102/2024/TLST- HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST –HNGĐ ngày 19/3/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Rcom H' B, sinh năm 1992; trú tại: Buôn M, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Ksor T, sinh năm 1988; địa chỉ: Buôn L, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 04/11/2024, bản tự khai ngày 04/11/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị R H' Beng trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T sau khi tìm hiểu quen biết nhau được gia đình hai bên đồng ý đã tổ chức đám cưới theo phong tục đăng lý kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai vào năm 2012. Sau khi kết hôn về vợ chồng chung với nhau có được 02 đứa con nhưng không có hạnh phúc. Đến năm 2017 chị và anh T đã giải quyết theo phong tục của người Jrai và từ đó đến nay cả hai đã không sống cùng nhau nữa. Nay không thể tiếp tục chung sống được với anh T vì vậy chị đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T
Về con chung: Có hai con chung là Rcom H' Nghiệp, sinh ngày 14/10/2011 và Rcom H' Nghị, sinh ngày 16/8/2013. Từ khi giải quyết theo phong tục là 02 con đều ở với chị. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết giao hai con cho chị nuôi và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Ksor T có nơi cư trú tại Buôn L, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án một cách hợp lệ cho anh Ksor T. Anh Ksor T đã biết việc chị R H’Beng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con chung nhưng anh Ksor T không cung cấp bản tự khai, không đến Tòa án để làm việc và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa lần thứ hai anh Ksor T cũng vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm bản tự khai, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không đến phiên tòa theo Giấy triệu tập.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị R H’Beng ly hôn với anh Ksor T.
Về con chung: Giao 02 con chung là Rcom H' Nghiệp, sinh ngày 14/10/2011 và Rcom H' Nghị, sinh ngày 16/8/2013 cho chị R H’Beng trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản, nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội; buộc chị R H’Beng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị R H’Beng khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Ksor T có nơi cư trú tại Buôn L, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Ksor T không có yêu cầu phản tố đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Nguyên đơn chị Rcom H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Rcom H và anh Ksor T đăng ký kết hôn ngày 15/8/2012 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai số 40/2012 ngày 15/8/2012 trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình, được pháp luật công nhận.
Quá trình chung sống chị R H’Beng và anh Ksor T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung thường xuyên cãi vã. Từ năm 2017 đến nay chị R H’Beng và anh Ksor T đã không còn chung sống cùng nhau. Nên chị Rcom H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Tại biên bản xác minh ngày 04/11/2024 tại Buôn L, xã I, huyện P cho thấy: Anh Ksor T và chị R H' Beng có với nhau 02 con chung sống tại buôn M, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Sau khi hai vợ chồng không chung sống với nhau nữa thì anh Ksor T về lại nhà mẹ đẻ ở tại Buôn L, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Từ đó nhận thấy hôn nhân giữa chị R H' Beng và anh Ksor T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị R H’Beng được ly hôn anh Ksor T.
Về con chung: chị R H’Beng và anh Ksor T có 02 con chung là Rcom H1, sinh ngày 14/10/2011 và Rcom H2, sinh ngày 16/8/2013. Để không làm xáo trộn cuộc sống của con và nguyện vọng của cháu R H1 và Rcom H’Nghị là được sống cùng mẹ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị R H’Beng trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị R H' Beng không yêu cầu anh Ksor T cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị R H’Beng không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị R H’Beng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị R H’Beng
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Rcom H được ly hôn với anh Ksor T
- Về con chung: Giao 02 con chung là Rcom H1, sinh ngày 14/10/2011 và Rcom H2, sinh ngày 16/8/2013 cho chị R H’Beng trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi), hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Chị Rcom H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0009053, ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Gia Lai;
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện Phú Thiện;
- - Chi Cục THS DS huyện Phú Thiện;
- - UBND xã Ia Hiao;
- - Lưu HS.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Chế Công Nghị Nguyễn Thị Ánh Ngọc | Ksor Jưh |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về con chung
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H'Beng xin ly hôn với anh Thơ
