Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày 09 tháng 6 năm 2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đạng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Bình;
  2. Bà Phạm Thị Thỏa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hữu Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 17/2025/TLST- HNGĐ, ngày 31 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/QĐST-DS, ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hầu Thị S; sinh năm: 1989; dân tộc: Mông; nghề nghiệp: Làm nương; CCCD số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 20/12/2023; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lù Súa T; sinh năm: 1991; dân tộc: Mông; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 25/3/2025, bản tự khai ngày 31/3/2025 và quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hầu Thị S trình bày: Chị và anh Lù Súa T, sinh năm 1991 là người cùng thôn, qua tìm hiểu về chung sống cùng nhau như vợ chồng, sau đó đến ngày 18/6/2013 vợ chồng đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, đến năm 2017 anh T tự ý bỏ nhà đi biệt tích, hai bên gia đình đã báo chính quyền địa phương và tổ chức đi tìm kiếm nhiều lần ở nhiều nơi nhưng đến nay không có tin tức gì, không biết anh T ở đâu, còn sống hay đã chết.

Kể từ khi anh T bỏ đi biệt tích đến nay cũng đã được 08 năm, chị S cũng đã làm thủ tục tìm kiếm trên Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông, báo công lý, cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân cho đến nay vẫn không có tin tức gì về anh T, chị S đã làm đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Y về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh T, ngày 17/01/2025 Tòa án nhân dân huyện Y đã ban hành Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2025/QÐST-HNGĐ về việc tuyên bố một người mất tích đối với anh Lù Súa T, cho đến nay Quyết định nêu trên của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà vẫn chưa có tin tức gì về anh T hiện đang ở đâu. Trong suốt thời gian anh T bỏ đi chị S đã một mình nuôi các con chung. Chị S nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa hai anh chị đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài được nữa do vậy chị giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lù Súa T.

Về con chung: Chị S và anh T có 02 con chung là Lù Thị S, sinh ngày 10/4/2011 và Lù Mí L, sinh ngày 29/9/2012. Khi ly hôn chị S đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, thời điểm giao con kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng: Chị S xác nhận không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn là anh Lù Súa T đã bị Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang tuyên bố mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số: 02/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 17/01/2025. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ đối với anh Lù Súa T nhưng anh T không có mặt để tham gia tố tụng.

Tại Biên bản xác minh ngày 05/5/2025 đối với ông Nguyễn Sinh L – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang cung cấp: Chị Hầu Thị S, sinh năm 1989 và anh Lù Súa T, sinh năm 1991 nơi cư trú Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang, đăng ký kết hôn ngày 16/8/2013 tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Sau khi kết hôn chị S và anh T chung sống với nhau tại Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Quá trình chung sống không rõ chị S và anh T có xảy ra mâu thuẫn gì không đến năm 2017 anh T bỏ đi khỏi nơi cư trú đến nay không rõ anh T ở đâu, làm gì, không trở về nơi cư trú. Chị S và anh T có 02 con chung là Lù Thị S, sinh ngày 10/4/2011 và Lù Mí L, sinh ngày 29/9/2012. Hiện các cháu đang sống cùng với chị S tại địa phương và được gia đình cho ăn học, phát triển bình thường, không có hành vi bạo lực đối với các cháu. Về mức thu nhập bình quân đầu người tại địa phương xã Đ là 22.500.000 đồng / người / năm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng cho các đương sự được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hầu Thị S, cho chị S được ly hôn với anh Lù Súa T. Về con chung: Giao 02 con chung là Lù Thị S, sinh ngày 10/4/2011 và Lù Mí L, sinh ngày 29/9/2012 cho chị Hầu Thị S trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Miễn cho chị Hầu Thị S toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Hầu Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lù Súa T, nơi cư trú cuối cùng tại Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyết định của Tòa án; bị đơn không chấp hành các quyết định của Tòa án mặc dù đã được triệu tập, thông báo, niêm yết hợp lệ, tuy nhiên vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hầu Thị S và anh Lù Súa T có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 16/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang nên hôn nhân giữa chị S và anh T là hợp pháp.

[5] Bị đơn anh Lù Súa T đã bị Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang tuyên bố mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số: 02/2025/QÐST-DS, ngày 17/01/2025.

[6] Về căn cứ cho ly hôn: Chị Hầu Thị S là vợ của anh Lù Súa T là người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn, nên yêu cầu ly hôn với anh T của chị S là có căn cứ, phù hợp, đúng với quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được chấp nhận.

[7] Về con chung: Chị S và anh T có với nhau 02 con chung gồm Lù Thị S, sinh ngày 10/4/2011 và Lù Mí L, sinh ngày 29/9/2012. Khi ly hôn chị S đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Thời điểm giao con kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của chị S về con chung là có căn cứ phù hợp với nguyện vọng của các con chung, phù hợp với quy định của pháp luật tại các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.

[8] Về tài sản, công nợ chung: Chị Hầu Thị S xác nhận không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai hay ai nợ vợ chồng chị S và anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Nguyên đơn chị Hầu Thị S là người dân tộc thiểu số sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, chị S đã có đơn xin miễn án phí nên cần miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị S.

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hầu Thị S được ly hôn với anh Lù Súa T.
  2. 2. Về con chung: Giao các cháu Lù Thị S, sinh ngày 10/4/2011 và Lù Mí L, sinh ngày 29/9/2012 cho chị Hầu Thị S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Lù Súa T không phải cấp dưỡng nuôi con. Thời điểm giao con kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Việc nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con là không cố định.

  3. 3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) cho chị Hầu Thị S.
  4. 4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. 5. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Y;
  • - Chi cục THADS H Yên Minh;
  • - UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Đạng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thỏa Nguyễn Đình Bình

Hoàng Văn Đạng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hầu Thị S, Lù Súa T "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger