Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚC YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 08/2025/HNGĐ- ST

Ngày 07-3-2025

“ V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và bà Doãn Thị Vệ

Thư ký phiên toà: Ông Lưu Bình Phương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 196/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QÐST - HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt” có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Lê Quốc K, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (Hiện đang chấp hành án tại Trại giam V, C-Bộ C), “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 3 năm 2024 và những lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Lê Quốc K được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2015. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng gia đình nhà chồng tại Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình chung sống ban đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc và vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Lê Đức K1 và cháu Lê Đức K2 (sinh đôi). Đến năm 2018, vợ chồng chị bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ quan điểm, tính cách của vợ chồng có nhiều khác biệt và không thể hóa giải. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, anh K chơi bời, phạm tội và phải đi chấp hành án tại trại giam V; chị và 02 con đã về nhà bố mẹ đẻ ở tổ dân phố Y, phường X và sống ly thân với anh K từ đó cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị và anh Lê Quốc K có 02 con chung là cháu Lê Đức K1 và cháu Lê Đức K2, đều sinh ngày 03 tháng 11 năm 2015 (sinh đôi). Hiện các cháu đang sống cùng với chị ở số nhà E, ngõ E phố K. tổ dân phố Y, phường X, thành phố P. Nếu ly hôn, chị đề nghị giao cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 18 tháng 02 năm 2025 và những lời khai tiếp theo bị đơn là anh Lê Quốc K trình bày: Anh thừa nhận quá trình tìm hiểu, đăng ký kết hôn cũng như nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị T trình bày. Anh chị xảy ra mâu thuẫn từ tháng 6 năm 2018 và sống ly thân với nhau đến nay anh xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị T. Chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh, quan điểm của anh đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng anh có 02 con chung như trên, các cháu đang ở cùng chị T. Do anh đang phải chấp hành án tại trại giam với hình phạt 08 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nên không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng các con nên anh đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày do bận làm ăn ở xa nên có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị đồng thời chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày tại Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Lê Quốc K; về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng cháu hai cháu Lê Đức K1 và Lê Đức K2; về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến; về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Lê Quốc K cư trú tại: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Quốc K là vợ chồng, có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 31 tháng 3 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P vào nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh K là hợp pháp. Căn cứ vào đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T thể hiện: Quá trình chung sống, giữa chị và anh K mẫu thuẫn do tính cách có nhiều khác biệt không thể hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, anh K chơi bời và phạm tội đang phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam nên chị T xác định không còn tình cảm với anh K, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau và sống ly thân với nhau từ tháng 6 năm 2018 đến nay nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh K. Quá trình lấy lời khai tại trại giam bị đơn anh K đều thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng như chị T trình bày và đồng ý ly hôn. Như vậy, có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh K đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lê Quốc K là phù hợp khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con chung là 02 cháu Lê Đức K1 và cháu Lê Đức K2, đều sinh ngày 03 tháng 11 năm 2015 (sinh đôi). Căn cứ vào điều kiện hiện tại của anh K, đang chấp hành án phạt tù nên không có điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con chung; căn cứ nguyện vọng của các cháu Đức K1, Đức K2 muốn được ở với mẹ để tiện chăm sóc các cháu. Vì vậy, cần thiết giao 02 cháu Lê Đức K1 và cháu Lê Đức K2 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; anh K không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Quốc K.

Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là cháu Lê Đức K1 và cháu Lê Đức K2, đều sinh ngày 03 tháng 11 năm 2015 (sinh đôi) cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến 18 tuổi. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004092 ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện KSND TP.Phúc Yên,
  • - Chi cục THADS TP.Phúc Yên;
  • - UBND P.Đồng Xuân, TP.Phúc Yên;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Anh Vũ

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ- ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chi T xin ly hon anh K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger