|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06-02-2025 .
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vân;
- Bà Nguyễn Xuân Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Phạm Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 742/2024/TLST-HNGĐ ngày 19-11-2024 về việc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025; giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé D, sinh năm 2002; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Bị đơn: Anh Ngô Huỳnh N, sinh năm 2001; Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Hiện đang chấp hành án tại Tổ A, P trại số D, Trại giam T; xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé D trình bày: Chị và anh N kết hôn năm 2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh ngày 12-01-2023. Trong quá trình chung sống, anh N không chăm lo cho gia đình dẫn đến gây gỗ, cãi nhau thường xuyên, sau đó anh N mua bán trái phép chất ma tuý, bị bắt, xét xử và đang chấp hành án. Chị xác định tình cảm giữa chị và anh N không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị và anh N chung sống có 01 con chung tên Ngô Đức A, sinh ngày 28-01-2023, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Bé D xác định không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 21-02-2024 bị đơn anh Ngô Huỳnh N thừa nhận: Về quan hệ hôn nhân, năm đăng ký kết hôn là đúng như chị D trình bày. Theo anh vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn gì, do anh mua bán trái phép chất ma túy và đang chấp hành án nên anh cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh Ngô Huỳnh N xác định có 01 con chung đúng như chị Nguyễn Thị Bé D đã trình bày. Con chung anh yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Anh và chị Nguyễn Thị Bé D chung sống không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Anh Ngô Huỳnh N xác định không có
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trình bày:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử ( HĐXX): Thẩm phán thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn có mặt. Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bé D, cho chị D được ly hôn với anh N. Về con chung giao cho chị D nuôi. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không yêu cầu và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu do các bên cung cấp, qua kết quả thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Ngô Huỳnh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh ngày 12-01-2023 nên hôn nhân của chị D và anh N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Theo chị D, vợ chồng chung sống được 03 tháng thì mâu thuẫn phát sinh do anh N không lo làm ăn phụ giúp gia đình, vi phạm pháp luật mua bán trái phép chất ma tuý, bị bắt, xét xử và phải đi chấp hành án. Anh N cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn, do anh mua bán trái phép chất ma túy phải đi chấp hành án. Qua làm việc chị D và anh N đều tự nguyện thuận tình ly hôn, nhưng do anh N vắng mặt nên không thể ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa hai anh chị được mà phải căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, tuyên xử cho chị D được ly hôn với anh N là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bé D và anh Ngô Huỳnh N xác định có 01 con chung tên Ngô Đức A, sinh ngày 28-01-2023, chị D xin được nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng.
Xét thấy, trong thời gian chung sống và khi ly thân chị D là người trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A, chị vẫn chăm lo cho cháu được tốt. Mặt khác, cháu A dưới 36 tháng tuổi và hiện tại anh Ngô Huỳnh N đang chấp hành án tại Tổ A, P trại số D, Trại giam T. Xuất phát từ lợi ích của cháu A, nghĩ nên giao cháu cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bé D và anh Ngô Huỳnh N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Bé D và anh Ngô Huỳnh N xác định không có nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bé D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bé D. Chị Nguyễn Thị Bé D được ly hôn với anh Ngô Huỳnh N.
- Về con chung: Giao cháu Ngô Đức A, sinh ngày 28-01-2023 cho chị Nguyễn Thị Bé D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bé D và anh Ngô Huỳnh N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Bé D và anh Ngô Huỳnh N xác định không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bé D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010160 ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.
Anh Ngô Huỳnh N không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỦ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN 08 GIỮA CHỊ C VỚI ANH N
