Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04-4-2025

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Hải
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Ngọc Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Không có.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đồng Thị D, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ dân phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Trịnh Xuân T, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ý kiến của bà Đồng Thị D là nguyên đơn trình bày:

Bà D và ông Trịnh Xuân T kết hôn với nhau năm 2024 trên cơ sở tự nguyện, các bên được tự do tìm hiểu nhau, không bị lừa dối ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 20/12/2024. Quá trình chung sống vợ chồng vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Dù hai vợ chồng đã tự hoà giải, gia đình hai bên khuyên bảo nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà D nhận thấy đời sống hôn nhân không thể tiếp tục, quan điểm sống không đồng nhất, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án giải quyết cho bà D được ly hôn với ông Trịnh Xuân T.

- Về con chung: Bà D và ông T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà D và ông T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của ông Trịnh Xuân T là bị đơn trình bày:

Các nội dung bà D trình bày về quá trình tìm hiểu, đăng ký kết hôn là đúng. Ông T thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng đã không còn. Đối với các yêu cầu khởi kiện của bà D, ông T có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Xuân T đồng ý ly hôn với bà Đồng Thị D.

Về con chung: Ông T và bà D không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà D không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các bên giải quyết các tranh chấp. Tuy nhiên, ông Trịnh Xuân T vắng mặt không có lý do, các bên không thoả thuận được. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trong quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ các bên cung cấp, xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Trịnh Xuân T có địa chỉ tại tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Trịnh Xuân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đồng Thị D và ông Trịnh Xuân T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 20/12/2024 nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình chung sống với nhau vợ chồng bà D và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong việc vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã dẫn đến ran nứt gia đình trầm trọng, cả hai bên gia đình đã động viên nhưng không thể hàn gắn. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau... 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…”. Quá trình giải quyết vụ án cả bà D và ông T đều thừa nhận đã không còn tình cảm vợ chồng và đều đề nghị được ly hôn. Điều này cho thấy, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho bà D được ly hôn với ông T.

[2.2] Về con chung: Bà Đồng Thị D và ông Trịnh Xuân T đều trình bày không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự đều trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Thị D:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Đồng Thị D được ly hôn với ông Trịnh Xuân T.
    • - Về con chung: Không có.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  2. Về án phí: Bà Đồng Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001446 ngày 10/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Bà D đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bà D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP. Phổ Yên;
  • - UBND phường Bãi Bông
  • (Giấy CNKH số 41 ngày 20/12/2024);
  • - Đương sự;
  • - Cổng TTĐT TAND Tối cao;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Xuân Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về con chung: Bà Đồng Thị D và ông Trịnh Xuân T đều trình bày không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger