Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 02/6/2025

V/v ly hôn, chia tài sản khi ly hôn.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Ngọc Yến Anh

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Ẩn

Ông Nguyễn Trung Tín

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phiên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày từ 28 tháng 5 đến ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 03/2025/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, về việc “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân nhân huyện D, tỉnh Khánh Hòa, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2025/QĐXXPT-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa và Quyết định tạm ngừng phiên tòa, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1976; địa chỉ thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu T, Luật sư, Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K; có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân C, sinh năm 1972; địa chỉ tạm trú: Số G thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

Người có quyền lời, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng C1;
  2. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Huy B; chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện D; địa chỉ: Số D L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy uỷ quyền số 283/NHCSDK-UQ đề ngày 09/11/2020 của Giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện D); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  3. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1939; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
  4. Ngân hàng TMCP Đ1 (S);
  5. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Trung M1; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh S; địa chỉ: Số H L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy uỷ quyền số 3611/2024/UQ-SeABank ngày 26/3/2024 của Phó Tổng Giám đốc S); vắng mặt.

  6. Bà Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có mặt
  7. Ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
  8. Bà Dương Thị Bích Q, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Anh T3, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, nội dung vụ án như sau:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Thị M trình bày: Năm 1995, bà và ông Nguyễn Xuân C tự nguyện chung sống và đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình chung sống do không có hạnh phúc nên bà và ông C ly hôn vào năm 2006. Đến năm 2007, bà M và ông C đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân xã D. Đến nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không có hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông C.

- Về con chung: Bà và ông C có 02 con chung là Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1996 và Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1998. Các con chung đã trưởng thành, khỏe mạnh nên bà không có yêu cầu gì.

- Về yêu cầu chia tài sản chung của ông C: Tại phiên tòa, bà M chỉ đồng ý chia tài sản chung là phần căn nhà có tại thửa đất 2930, tờ bản đồ số 01 xã D nhưng xem xét công sức đóng góp của bà M về căn nhà trên nhiều hơn ông C, cụ thể bà M sẽ nhận 70% giá trị phần tài sản trên và ông C nhận 30% giá trị. Bà M xin nhận hiện vật là căn nhà, đồng ý thanh toán giá trị căn nhà cho ông C theo giá trị được xác định tại Biên bản thẩm định giá tài sản do Tòa án lập ngày 24/10/2023. Bà M không đồng ý chia phần diện tích đất thuộc thửa đất 2930, tờ bản đồ số 01 xã D vì đây là tài sản tặng cho riêng của cha mẹ bà M, không phải tài sản chung. Việc ông C yêu cầu chia số tiền liên quan đến việc bán nhà đất của thửa đất 2933, tờ bản đồ số 01, xã D, bà M xác định số tiền bán đất bà giữ, hai vợ chồng bà M, ông C đã cùng chi tiêu vào tất cả sinh hoạt của gia đình, cụ thể dùng để trả các khoản nợ, mua sắm, cưới hỏi cho các con, sửa chữa nhà ở nên hiện không còn; vì vậy bà M không đồng ý chia theo yêu cầu của ông C nếu ông C yêu cầu chia thì đề nghị ông C phải chứng minh số tiền trên hiện còn trên thực tế để yêu cầu chia.

- Về khoản nợ chung: Bà M xác nhận giữa bà M và ông C có nợ của Ngân hàng C1 tính đến nay tổng cộng 45.000.000đ; vay Ngân hàng TMCP Đ1 50.000.000 đồng, tính đến tháng 10/2024, bà đã trả hết nợ cả nợ gốc và lãi là 68.400.000 đồng; nợ của ông Nguyễn Văn P (cha ruột bà M) số tiền 120.000.000 đồng. Ngoài ra, ông bà không còn nợ của bất cứ cá nhân, tổ chức nào khác. Bà đồng ý trả khoản nợ theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1 và ông P.

- Về kết quả đo vẽ, định giá tài sản do Tòa án lập ngày 24/10/2023, bà M thống nhất, không yêu cầu đo vẽ, định giá lại.

- Về các chi phí tố tụng và án phí: Bà M đề nghị xem xét theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Xuân C trình bày: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, ông đồng ý với phần trình bày của bà Nguyễn Thị M. Về quan hệ hôn nhân, trong quá trình chung sống, giữa ông và bà M xảy ra mâu thuẫn kéo dài nhưng không hòa giải được, vì vậy ông và bà M đã quyết định không chung sống cùng nhau. Nay bà M yêu cầu ly hôn, ông cũng đồng ý.

- Về con chung: Có 02 con chung như bà M đã trình bày. Các con đã trưởng thành, khỏe mạnh nên ông không có yêu cầu gì.

- Về tài sản chung: Ông C vẫn giữ nguyên yêu cầu về chia nhà và đất thuộc thửa đất 2930, tờ bản đồ số 01, xã D; ông C thay đổi nội dung yêu cầu về tài sản trên, cụ thể ông C đồng ý giao thửa đất 2930 và tài sản gắn liền với đất cho bà M, yêu cầu bà M thanh toán ½ giá trị tài sản trên cho ông theo giá trị được xác định tại Biên bản thẩm định giá tài sản do Tòa án lập ngày 24/10/2023. Liên quan đến phần diện tích đất của thửa đất 2930, ông C yêu cầu chia diện tích đất là 162,4m² theo kết quả đo vẽ thực tế tại Mảnh trích đo vẽ của Công ty TNHH V cung cấp cho Tòa án.

Đối với ý kiến của bà M cho rằng phần tài sản trên là tài sản riêng của bà và cũng như nội dung về công sức đóng góp tài sản chung trên của bà M nhiều hơn ông, đề nghị bà M cung cấp các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho nội dung trên của mình.

Về yêu cầu chia số tiền liên quan đến bán nhà đất thuộc thửa đất 2933, tờ bản đồ số 01, xã D, được 2.100.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm triệu đồng), số tiền còn lại là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), ông C yêu cầu Tòa án xem xét sau trừ số tiền nợ đã trả Ngân hàng TMCP S1 là 650.000.000 đồng; trừ của Ngân hàng TMCP Đ1 tính đến nay tổng cộng nợ gốc và lãi bà M đã trả là 68.400.000 đồng; trừ tiền vay bà M đã trả cho Ngân hàng C1 là 5.000.000 đồng; tiền mua 01 lượng vàng đám cưới con trai là 52.000.000 đồng; tiền bảo hiểm D-ichi là 33.400.000 đồng; chi phí bằng lái xe cho 02 con là 60.000.000 đồng. Tổng cộng đã chi 868.800.000 đồng (T4 trăm sáu mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền còn lại sau khi trừ đi các khoản nợ là 1.131.200.000 (Một tỷ một trăm ba mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng). Ông đề nghị bà M thanh toán lại cho ông ½ số tiền trên là 565.600.000 đồng (Năm trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng).

Nợ hiện tại: Tiền nợ của ông Nguyễn Văn P (Là cha ruột của bà M) số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng), ông yêu cầu chia đôi, mỗi người trả 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) cho ông P. Tiền nợ Ngân hàng C1 còn 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng), ông yêu cầu chia đôi, mỗi người trả 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) cho Ngân hàng chính sách.

Các khoản chi khác do bà M trình bày ông không đồng ý vì khi chi tiêu bà M không hỏi ý kiến của ông và không được sự đồng ý của ông.

- Về việc kết quả đo vẽ, định giá tài sản do Tòa án lập ngày 24/10/2023, ông Chính thống N, không yêu cầu đo vẽ, định giá lại.

- Về các chi phí tố tụng và án phí: Ông Chính đề N1 xem xét theo quy định pháp luật, mỗi người chịu ½.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Đ điện theo ủy quyền của N2 hành chính sách xã hội trình bày: Ngày 13/9/2022, bà Nguyễn Thị M có vay Ngân hàng Chính sách xã hội số tiền 50.000.000 đồng; mã món vay 6600000723802747; lãi suất 7,92%/năm; thời hạn vay 60 tháng; hạn trả nợ cuối cùng: 13/8/2027; mục đích vay là để trồng xoài; vay không thế chấp tài sản. Đến nay, vợ chồng bà M còn nợ ngân hàng là 45.000.000 đồng. Ngân hàng đề nghị xem xét phân chia trách nhiệm trả nợ khoản vay đối với bà M và ông C khi Tòa giải quyết ly hôn.
  2. Ông Nguyễn Văn P trình bày: Nguồn gốc thửa đất 2930 và 2933, tờ bản đồ số 01, tại thôn Đ, xã D đang tranh chấp chia tài sản chung giữa ông C và bà M là do ông và vợ là bà Võ Thị H tặng cho riêng bà M. Tuy nhiên, khi làm thủ tục tặng cho, do không am hiểu pháp luật nên khi làm thủ tục mới ký tên tặng cho có cả ông Nguyễn Xuân C. Ông đề nghị Tòa xem xét nguồn gốc đất, công sức tạo lập, đóng góp của mỗi bên để chia cho bà Nguyễn Thị M tài sản là thửa đất số 2930 và giá trị phần căn nhà tạo lập cùng ông C, ông C chỉ được hưởng một phần giá trị căn nhà đúng với công tạo lập. Ngoài ra, ông yêu bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Xuân C có nghĩa vụ trả cho ông số tiền vay là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) để xây nhà trọ.
  3. Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Đ1 trình bày: Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng TMCP Đ1 xác nhận bà M và ông C có vay nợ ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng không có yêu cầu độc lập.
  4. Bà Nguyễn Thị Tuyết T1 trình bày: Bà là con bà M và ông C. Bản thân bà đang sinh sống trên thửa đất tranh chấp. Bà không có đóng góp gì về vật chất nên bà không có ý kiến gì về việc chia tài sản chung của ba mẹ bà, bà cũng không có yêu cầu gì.
  5. Ông Nguyễn Xuân T2 trình bày: Ông là con bà M và ông C. Ngày 30/01/2024, ông T2 có đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu bà M và ông C trả cho ông số tiền 50.000.000 đồng sửa chữa nhà. Ngày 05/4/2024, ông T2 có đơn rút yêu cầu độc lập và không có yêu cầu gì khác, Tòa án đã trả đơn yêu cầu độc lập cho ông T2.
  6. Bà Dương Thị Bích Q trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Xuân T2, số tiền 50.000.000 đồng ông T2 góp vào sửa sang ngôi nhà là tài sản riêng của ông T2. Bà không có yêu cầu gì.

* Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân nhân huyện D, tỉnh Khánh Hòa căn cứ: Điều 19, Điều 33, Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 59, Điều 62 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 157, Điều 165 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố về chia tài sản chung của bị đơn;

  1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa các đương sự, bà Nguyễn Thị M thuận tình ly hôn với ông Nguyễn Xuân C.
  2. Về con chung: Không xem xét.
  3. Về tài sản chung:
    1. Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Xuân C ½ số tiền đã sang nhượng tài sản chung của thửa đất số 2933, tờ bản đồ số 1 xã D, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01881 cấp ngày 16/9/2016, đứng tên ông C và bà M là 565.600.000 đồng (Năm trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng).
    2. Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Xuân C ½ giá trị tài sản thửa đất số 2930, tờ bản đồ số 1 xã D, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01881 cấp ngày 16/9/2016, đứng tên ông C và bà M là 630.580.452 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu năm trăm tám mươi nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng).

    Tổng cộng, bà Nguyễn Thị M phải thanh toán cho ông Nguyễn Xuân C là 1.196.180.452 (Một tỷ một trăm chín mươi sáu triệu một trăm tám mươi nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng).

    1. Bà Nguyễn Thị M được quyền quản lý, sử dụng tài sản là thửa đất số 2930, tờ bản đồ số 1 xã D, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01881 cấp ngày 16/9/2016, đứng tên ông C, bà M và tài sản gắn liền với đất gồm:
      • Diện tích thửa đất là 162,4m² (Trong đó: Đất ở nông thôn là 60m²; đất trồng cây lâu năm có diện tích 102,4m²).
      • Công trình, vật kiến trúc trên đất:
        • + Phần cũ: Nhà cấp 4, mái tole, tường gạch 100, sơn nước, trần la phông, nền gạch men, cửa nhôm, diện tích 54,6m².
        • + Phần mới: Nhà cấp 4, mái tole, nền gạch men, trần thạch cao, cửa nhôm, có nhà vệ sinh hoàn chỉnh; diện tích 45,7m².
        • + Mái che phía sau: Mái che tole, nền xi măng; diện tích 36,3m².
        • + Mái che phía trước: Mái tole, nền gạch men; diện tích 18m².
        • + Cổng sắt + hàng rào sắt: Diện tích 4,7m².
        • + T5 rào phía sau: Xây gạch, táp lô, chiều dài 20m.
        • + Sân xi măng: nền láng xi măng: Diện tích 7,6m².
        • - Cây trồng trên đất: 01 cây xoài ghép loại C.
    2. Bà Nguyễn Thị M có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  4. Về nợ chung:
    1. Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán nợ chung cho Ngân hàng C1 - Phòng giao dịch huyện D số tiền 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
    2. Ông Nguyễn Xuân C có nghĩa vụ thanh toán nợ chung cho Ngân hàng C1 - Phòng giao dịch huyện D số tiền 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
    3. Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán nợ chung cho ông Nguyễn Văn P là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
    4. Ông Nguyễn Xuân C có nghĩa vụ thanh toán nợ chung cho ông Nguyễn Văn P số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự và quy định chung.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M nộp đơn kháng cáo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  1. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên nội dung kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đối với tài sản chung; các quyết định khác của bản án sơ thẩm (Về quan hệ hôn nhân, con chung, nợ chung, án phí và chi phí tố tụng), nguyên đơn đồng ý.
  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân nhân huyện D đối với phần tài sản chung của vợ chồng, theo hướng chia tài sản chung với tỷ lệ 7/3 (Bà M được 70%, ông C được 30%); bà M xin nhận hiện vật và thanh toán bằng giá trị cho ông C.

  3. Các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản chung vợ chồng, cụ thể:
    • Đối với quyền sử dụng đất tại thửa số 2930 và tài sản gắn liền với đất, tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa: Các bên thống nhất chia theo tỷ lệ 7/3 (Bà M được 70%, ông C được 30%); giao toàn bộ hiện vật cho bà M quản lý, bà M thanh toán lại cho ông C 30% giá trị nhà đất.
    • Đối với quyền sử dụng đất tại thửa số 2933, tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa: Các bên thống nhất chia đôi số tiền chuyển nhượng thửa đất còn lại là 400.000.000 đồng; bà M có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông C số tiền 200.000.000 đồng.
  4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu:
    • Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
    • Về nội dung: Tại phiên tòa, các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết nội dung tài sản chung; đây là sự tự nguyện của các đương sự, không vi phạm pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được ghi nhận theo Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân nhân huyện D, theo hướng ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự về phần tài sản chung; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
    • Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử xác định lại án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và giải quyết án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1] Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, bị nguyên đơn bà Nguyễn Thị M kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
    2. [1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng C1 và người làm chứng là ông Nguyễn Anh T3 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Đ1 (S) vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.
  2. [2] Về nội dung vụ án:
  3. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Xuân C và bà Nguyễn Thị M gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa số 2930, tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01880 do UBND huyện D cấp ngày 06/9/2016, đứng tên ông Nguyễn Xuân C và bà Nguyễn Thị M) và Quyền sử dụng đất tại thửa số 2933, tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01881 do UBND huyện D cấp ngày 06/9/2016, đứng tên ông Nguyễn Xuân C và bà Nguyễn Thị M), là có căn cứ.

  4. [3] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử nhận thấy sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, nên sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về phần tài sản chung, cụ thể như sau:
    1. [3.1] Đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất tại thửa số 2933, tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01881 do UBND huyện D cấp ngày 06/9/2016, đứng tên ông Nguyễn Xuân C và bà Nguyễn Thị M):
      • (i) Ông C và bà M xác nhận vào năm 2022, ông bà đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 2933, tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D cho ông Nguyễn Anh T3 với giá 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Sau khi trừ đi số tiền trả các khoản nợ chung cùng các khoản chi phí hợp lý khác cho gia đình, ông C và bà M thống nhất xác định số tiền chuyển nhượng đất còn lại là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Số tiền còn lại này do bà M cất giữ, quản lý.
      • (ii) Ông C và bà M tự nguyện thỏa thuận chia đôi số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng); bà M có nghĩa vụ thanh toán cho ông C số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
    2. [3.2] Đối với tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 2930 và tài sản gắn liền với đất, thuộc tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01880 do UBND huyện D cấp ngày 06/9/2016, đứng tên ông Nguyễn Xuân C và bà Nguyễn Thị M):
      • (i) Ông C và bà M tự nguyện thỏa thuận chia tài sản trên theo tỷ lệ 7/3 (Bà M được nhận 70%, ông C được nhận 30%). Bà M xin nhận hiện vật và thanh toán toàn bộ hiện vật cho ông C 30% giá trị nhà đất nếu trên.
      • (ii) Tại Biên bản định giá tài sản ngày 24/10/2023 của Hội đồng định giá, theo Quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá tài sản số 08 ngày 16/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, xác định:
        • - Tổng giá trị quyền sử dụng thửa đất số 2930 là: 859.600.000 đồng.
        • - Tổng giá trị công trình, vật kiến trúc, cây trồng trên thửa đất số 2930 là: 401.560.904 đồng.

        Tổng giá trị quyền sử dụng thửa đất số 2930 và tài sản gắn liền với đất là: 1.261.160.904 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu một trăm sáu mươi nghìn chín trăm lẻ bốn đồng).

      • (iii) Bà M có nghĩa vụ thanh toán cho ông C 30% giá trị tài sản, cụ thể: 1.261.160.904 đồng x 30% = 378.348.271 đồng (Ba trăm bảy mươi tám triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng).
    3. [4] Như vậy, tổng số tiền bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Xuân C là: 200.000.000 đồng + 378.348.271 đồng = 578.348.271 đồng (Năm trăm bảy mươi tám triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng).
    4. [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
    5. [6] Về án phí:
      1. [6.1] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Tại các biên bản hòa giải do Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh tiến hành (BL số 258 - 259, 266 - 267) thể hiện nội dung bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Xuân C thuận tình ly hôn nhưng không thỏa thuận được về tài sản chung, nên Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên tòa xét xử và ra bản án. Như vậy, các đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định đối với yêu cầu xin ly hôn (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định), theo khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về việc áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên nguyên đơn bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là chưa chính xác, cần rút kinh nghiệm.
      2. Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa phần án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, cụ thể: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Xuân C, mỗi người phải nộp 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

      3. [6.2] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại án phí dân sự sơ thẩm theo nội dung thỏa thuận về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa.
        • (i) Tổng giá trị tài sản mà bà Nguyễn Thị M được chia là: (1.261.160.904 đồng x 70%) + 200.000.000 đồng = 1.082.812.632 đồng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị M phải nộp 44.484.378 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
        • Như vậy, bà Nguyễn Thị M phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là: 75.000 đồng + 44.484.378 đồng = 44.559.378 đồng, nhưng được cấn trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà M đã nộp, theo Biên lai số: AA/2021/0012444 ngày 23/02/2023 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện D. Bà M còn phải nộp thêm 44.259.378 đồng án phí sơ thẩm.

        • (ii) Tổng giá trị tài sản mà ông Nguyễn Xuân C được chia là: 578.348.271 đồng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, ông C phải nộp 27.133.930 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
        • Như vậy, ông Nguyễn Xuân C phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là: 75.000 đồng + 27.133.930 đồng = 27.208.930 đồng, nhưng được cấn trừ vào số tiền 48.500.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông C đã nộp, theo Biên lai số: AA/2022/0000060 ngày 24/4/2023 và Biên lai số: 0001166 ngày 04/3/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện D. Hoàn trả cho ông C số tiền 21.291.070 đồng.

      4. [6.3] Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà bà M đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001283 ngày 04/12/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện D. Bà M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
  • - Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 148; khoản 2, khoản 3 Điều 296; Điều 300; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 33, Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 59, Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 27, khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Căn cứ khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về việc áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Xuân C.
  2. Về con chung: Không xem xét.
  3. Về tài sản chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
    1. Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Xuân C 50% số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 2933, tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01881 do UBND huyện D cấp ngày 06/9/2016, đứng tên ông Nguyễn Xuân C và bà Nguyễn Thị M, với số tiền là: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
    2. Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Xuân C 30% giá trị quyền sử dụng thửa đất số 2930 và tài sản gắn liền với đất, tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01880 do UBND huyện D cấp ngày 06/9/2016, đứng tên ông Nguyễn Xuân C và bà Nguyễn Thị M, với số tiền là: 378.348.271 đồng (Ba trăm bảy mươi tám triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng).
    3. Tổng số tiền bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Xuân C là: 578.348.271 đồng (Năm trăm bảy mươi tám triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng).
    4. Bà Nguyễn Thị M được quyền quản lý, sử dụng tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 2930, tờ bản đồ số 01 xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01880 do UBND huyện D cấp ngày 06/9/2016, đứng tên ông Nguyễn Xuân C và bà Nguyễn Thị M, cùng tài sản gắn liền với đất cụ thể:
      • Diện tích thửa đất là 162,4m² (Trong đó: Đất ở nông thôn có diện tích 60m²; đất trồng cây lâu năm có diện tích 102,4m²).
      • Công trình, vật kiến trúc trên đất:
        • + Phần nhà cũ: Nhà cấp 4, tường xây gạch 100, sơn nước; mái tôn; nền lát gạch men; trần la phông; cửa nhôm; tổng diện tích 54,6m².
        • + Phần nhà mới: Nhà cấp 4, tường xây gạch 100, mái tôn; nền lát gạch men; trần thạch cao; cửa nhôm; có nhà vệ sinh hoàn chỉnh; tổng diện tích 45,7m².
        • + Mái che phía sau: Mái lợp tôn, nền láng xi măng, diện tích 36,3m².
        • + Mái che phía trước: Mái lợp tole, nền lát gạch men, diện tích 18m².
        • + Cổng sắt + hàng rào sắt: Cổng sắt hộp tiêu chuẩn, diện tích 4,7m².
        • + T5 rào phía sau: Hàng rào xây gạch tấp lô, chiều dài 20m.
        • + Sân nền láng xi măng: Diện tích 7,6m².
        • - Cây trồng trên đất: 01 cây xoài ghép loại C.

        (Đính kèm Trích đo địa chính thửa đất do Công ty TNHH V lập ngày 24/10/2023; Bản vẽ hiện trạng nhà do Công ty TNHH T6 lập tháng 11/2023).

        Bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, theo đúng quy định của pháp luật.

  4. Về nợ chung:
    1. Khoản nợ chung đối với Ngân hàng C1 - Phòng giao dịch huyện D: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Xuân C, mỗi người có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C1 - Phòng giao dịch huyện D số tiền còn nợ là 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
    2. Khoản nợ chung đối với ông Nguyễn Văn P: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Xuân C, mỗi người có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền còn nợ là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
  5. Về án phí:
    1. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm:
      • (i) Bà Nguyễn Thị M phải chịu 44.559.378 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được cấn trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà M đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0012444 ngày 23/02/2023 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện D. Bà M còn phải nộp thêm số tiền 44.259.378 đồng (Bốn mươi bốn triệu hai trăm năm mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi tám đồng) án phí sơ thẩm.
      • (ii) Ông Nguyễn Xuân C phải chịu 27.208.930 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được cấn trừ vào số tiền 48.500.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông C đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0000060 ngày 24/4/2023 và Biên lai số: 0001166 ngày 04/3/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện D. Hoàn trả cho ông C số tiền 21.291.070 đồng (Hai mươi mốt triệu hai trăm chín mươi mốt nghìn không trăm bảy mươi đồng).
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà bà M đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001283 ngày 04/12/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện D. Bà Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Xuân C chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, với số tiền là: 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng).
  7. Quy định chung: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, tương ứng với thời gian chậm trả.
  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND huyện Diên Khánh;
  • - VKSND huyện Diên Khánh;
  • - Chi cục THADS huyện Diên Khánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: + VP;
  • + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Ngọc Yến Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-PT ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai - Chính
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger