|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 08/2025/HNGĐ-PT Ngày 09-4-2025 V/v: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên
Các Thẩm phán: Ông Trần Đình Chi, ông Nguyễn Hán Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 03 và 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 37/2024/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn” do bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2025/QĐXXPT-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ
(Có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Đình C - sinh năm 1962
Địa chỉ: Khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C: Ông Hoàng Quốc V - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.
(Ông C có mặt, ông V vắng mặt)
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1998
Địa chỉ: Khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ
(Vắng mặt)
2. Ngân hàng N
Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng N: Ông Hà Đức G - Chức vụ: Giám đốc Phòng G1 - Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Y.
(Ông G đề nghị xét xử mặt)
3. Ngân hàng C1
Địa chỉ: Số A L H Hà Nội
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C1: Ông Nguyễn Xuân T1 - Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch huyện Y, Ngân hàng C1 - Chi nhánh tỉnh P
(Ông T1 đề nghị xét xử mặt)
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Đình C - là bị đơn
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Đình C ly hôn năm 2004 sau đó kết hôn lại năm 2009. Đến năm 2023 bà và ông C ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 106/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, khi ly hôn hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của bà và ông C trong thời kỳ hôn nhân. Sau khi ly hôn, hai bên không tự thỏa thuận được với nhau về giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung nên bà khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung, cụ thể như sau:
- Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân lần hai, năm 2014 bà và ông C đã tạo dựng (mua) được khối tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 336, tờ bản đồ số 42, diện tích đất là 132,1 m² (trong đó đất ở là 107 m², đất cây lâu năm là 25,1 m²) đã được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX157908 ngày 26/7/2014, tên người sử dụng đất là ông Nguyễn Đình C và bà Nguyễn Thị L, địa chỉ thửa đất: Khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Tài sản trên đất là một nhà ba tầng. Nay bà yêu cầu Tòa án chia cho mỗi người được ½ giá trị tài sản trên, bà xin được sử dụng toàn bộ nhà, đất và thanh toán chênh lệch về tài sản cho ông C bằng ½ giá trị tài sản theo quy định.
- Vê nghĩa vụ chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà và ông C có vay Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Y số tiền gốc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), lãi suất đã trả hết tháng 8/2024, theo Hợp đồng tín dụng số 2716-LAV-2023 00430 ngày 16/02/2023, được thế chấp bằng Hợp đồng thế chấp bất động sản số 16022023/HĐTC/ML ngày 15/02/2023 giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Đình C đối với quyền sử dụng thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 diện tích 132,1m² tại khu H, xã M, huyện H, tinh P và toàn bộ tài sản có trên đất, số tiền vay này vợ chồng dùng để trả tiền còn nợ mua nhà, đất nêu trên. Vay của Ngân hàng C1 - Phòng giao dịch huyện Y số tiền gốc là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) theo đơn xin vay vốn ngày 20/11/2022 của bà L, mục đích vay là để sửa chữa nhà, lãi suất đã trả hết tháng 8/2024. Do bà không dùng số tiền của 02 khoản vay vào việc riêng nên bà nghị Tòa án giải quyết xác định đó là khoản nợ chung và yêu cầu cả hai người cùng có nghĩa vụ trả nợ, mỗi người trả ½ số tiền nợ (gốc và lãi phát sinh cho đến khi trả nợ xong) trên cho Ngân hàng.
Bị đơn ông Nguyễn Đình C trình bày:
Về thời gian kết hôn và ly hôn như bà L trình bày. Khi ly hôn lần hai không giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung giữa ông và bà L. Nay bà L yêu cầu chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung giữa ông và bà L, quan điểm ông là không nhất trí vì toàn bộ nhà, đất tại địa chỉ khu H, xã M, huyện Y như bà L trình bày đó là tài sản riêng của ông, vì nguồn gốc tài sản này là do ông bán tài sản riêng của ông là 15m đất mặt đường để lấy tiền mua nhà và đất, không phải là tài sản chung của ông và bà L nên ông không nhất trí chia cho bà L.
Về nghĩa vụ về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông và bà L có vay tiền của Ngân hàng N và vay Ngân hàng C1 đúng như lời trình bày của bà L. Tuy nhiên số tiền vay này bà L đã sử dụng mục đích riêng, do khoản vay này là vay riêng của bà L nên ông không có nghĩa vụ trả (ông đã chứng minh như trong đơn đề nghị ngày 09/8/2024).
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông C thay đổi quan điểm đó là yêu câu bà L phải trả cho ông số tiền 970.000.000 đồng, bao gồm: 200.000.000 đồng tiền ông vay của Ngân hàng N cho bà L; số tiền bà L vay của ông 140.000.000 đồng để trả cho bà T2 ở H; số tiền 180.000.000 đồng bà L vay của ông trả tiền 03 xuất phường; số tiền 200.000.000 đồng bà L vay ông để chỉ riêng và toàn bộ 02 khoản vay của Ngân hàng nêu trên (Ngân hàng C1 50.000.000 đồng, Ngân hàng N 200.000.000 đồng). Sau khi trả tiền xong cho ông thì ông mới đồng ý chia tài sản chung. Khi chia tài sản chung thì chia cho 02 con riêng của ông là Nguyễn Văn V1 và Nguyễn Thị L1 05m đất mặt đường vì đã có công sức đóng góp hình thành nên tài sản là 15m đất mặt đường đã bán để mua tài sản chung mà bà L đang yêu cầu chia. Ông xác nhận tài sản chung là nhà, đất và 02 khoản vay của Ngân hàng N và Ngân hàng C1 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa ông và bà L.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng N do ông Hà Đức G là người đại diện trình bày:
Theo hồ sơ vay vốn, Ngân hàng N có cho bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Đình C vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số 2716-LAV- 202300430 ngày 16/02/2023 được ký giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị L, số tiền bà L vay Ngân hàng là 300.000.000 đồng. Khoản vay được bảo đảm bằng tài sản là thửa đất số 336, tờ bản đồ số 42, diện tích 132,1m² (trong đó có 107m² đất ở và 25,1m² đất trồng cây lâu năm) và toàn bộ tài sản trên đất tại khu H, xã M, huyện Y, tinh P theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 16022023/HĐTC/ML ngày 15/02/2023 giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Đình C đã kỹ. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 100.000.000 đồng, tính đến ngày 03/6/2024 số tiền gốc còn nợ là 200.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 29/9/2024 là 1.747.954 đồng. Nay Tòa án giải quyết chia tài sản chung giữa bà L và ông C, quan điểm của Ngân hàng là đề nghị phần tài sản hiện đang thế chấp tại Ngân hàng mà giao cho ai sở hữu, sử dụng thì người đó có trách nhiệm trả Ngân hàng toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi phát sinh đến khi trả xong.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng C1 do người đại diện là ông Nguyễn Xuân T1 trình bày:
Ngày 24/11/2022 theo Hợp đồng tín dụng (Sổ vay vốn) số 1100133353 đã ký giữa Ngân hàng C1 với bà Nguyễn Thị L thì bà Nguyễn Thị L là người đại diện hộ gia đình để giao dịch với Ngân hàng C1, chồng bà L là ông Nguyễn Đình C là người thừa kế, số tiền bà L vay Ngân hàng là 50.000.000 đồng. Tính đến ngày 29/9/2024, hộ bà L và ông C còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 443.836 đồng. Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà L và ông C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C1 số tiền gốc và lãi phát sinh của khoản vay nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Duy T trình bày:
Anh là con trai của ông C và bà L, ngày 16/11/2022 anh có ký vào giấy ủy quyền để ủy quyền cho bà L vay vốn tại Ngân hàng C1, vì anh là một khẩu trong gia đình, còn việc bà L, ông C vay Ngân hàng C1 bao nhiêu tiền và dùng vào việc gì thì anh hoàn toàn không biết, việc ký giấy ủy quyền chỉ là thủ tục chứ anh không có trách nhiệm trong khoản vay của ông C ba L, ông C bà L vay thì phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng. Đối với số tiền vay của Ngân hàng N là 200.000.000 đồng, số tiền này anh không được biết và không liên quan gì nên anh không có nghĩa vụ trả nợ, bố mẹ anh vay thì phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng. Còn đối với biên bản đối chất ngày 23/9/2024 vào hồi 09 giờ 30 phút anh xác định chỉ có mặt cùng bố mẹ khi giải quyết việc vay nợ riêng của anh là khoản nợ 200.000.000 đồng của Ngân hàng N thời gian cuối năm 2022, còn khoản vay riêng của bố mẹ anh ngày 16/02/2023 thì anh không có mặt nên không biết nội dung gì.
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ Điều 33, Điều 59, khoản 1, 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b, e khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L
Xác nhận quyền sử dụng thửa đất số 336, tờ bản đồ số 42, diện tích 132,1m² (trong đó có 107m² đất ở và 25,1m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, tên người sử dụng đất ông Nguyễn Đình C và bà Nguyễn Thị L trên đất có một nhà ba tầng, mỗi tầng có diện tích xây dựng 92,2m², có 07 phòng sử dụng để kinh doanh nhà nghỉ. Tổng trị giá là 1.057.949.000 đồng (Một tỷ không trăm năm mươi bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng) là tài sản chung của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Đình C trong thời kỳ hôn nhân.
1. Tài sản chung được chia như sau: Tài sản chung của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Đình C có tổng trị giá tài sản là 1.057.949.000 đồng, mỗi người hưởng ½ giá trị tài sản là 528.974.500 đồng.
Giao cho ông Nguyễn Đình C được quyền sử dụng quyền sử dụng thửa đất số 336, tờ bản đồ số 42, diện tích 132,1m² (trong đó có 107 m² đất ở và 25,1 m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thửa đất khu 8, xã M, huyện Y, tinh P, tên người sử dụng đất ông Nguyễn Đình C và bà Nguyễn Thị L và sở hữu tài sản trên đất là 01 nhà xây 03 tầng, mỗi tầng có diện tích xây dựng 92,2m², có tổng trị giá là 1.057.949.000 đồng (Một tỷ không trăm năm mươi bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
Ông Nguyễn Đình C có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho bà Nguyễn Thị L số tiền 528.974.500 đồng (Năm trăm hai mươi tám triệu chín trăm bảy mươi tư nghìn năm trăm đồng).
2. Về nghĩa vụ chung của hai bên:
Xác nhận bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Đình C có vay của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Y số tiền 201.747.945 đồng (Hai trăm linh một triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó số tiền gốc là 200.000.000 đồng và lãi suất phát sinh đến hết ngày 29/9/2024 là 1.747.945 đồng; vay của Ngân hàng C1 - Chi nhánh tỉnh P - Phòng giao dịch huyện Y số tiền 50.443.836 đồng (Năm mươi triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng), trong đó số tiền gốc là 50.000.000 đồng và lãi suất phát sinh đến hết ngày 29/9/2024 là 443.836 đồng, là hai khoản nợ chung của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Đình C trong thời kỳ hôn nhân.
Giao cho ông Nguyễn Đình C có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền vay của hai Ngân hàng với tổng số tiền là 252.191.790 đồng, cụ thể:
- Trả cho Ngân hàng N- Chi nhánh huyện Y - Phòng G1 số tiền 201.747.945 đồng (Hai trăm linh một triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó số tiền gốc là 200.000.000 đồng và lãi suất phát sinh đến hết ngày 29/9/2024 là 1.747.945 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2716-LAV-202300430 ngày 16/02/2023 giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị L.
Trường hợp ông Nguyễn Đình C không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ của một kỳ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp của ông Nguyễn Đình C và bà Nguyễn Thị L để thu hồi khoản nợ. Cụ thể theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 16022023/HĐTC/ML ngày 15/02/2023 giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Đình C đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 336, tờ bản đồ số 42, diện tích 132,1m² (trong đó có 107m² đất ở và 25,1m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ: Khu H, xã M, huyện Y, tinh P và toàn bộ tài sản có trên đất.
- Trả cho Ngân hàng C1 - Chi nhánh P - Phòng giao dịch huyện Y số tiền 50.443.836 đồng (Năm mươi triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng), trong đó số tiền gốc là 50.000.000 đồng và lãi suất phát sinh đến hết ngày 29/9/2024 là 443.836 đồng theo Hợp đồng tín dụng (Sổ vay vốn) ngày 24/11/2022 giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị L.
Kể từ ngày 30/9/2023, ông Nguyễn Đình C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản vay này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch trả nợ cho ông C số tiền 126.095.895 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu không trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi lăm đồng).
3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Đình C có nghĩa vụ thanh toán tiền chi phí tố tụng cho bà Nguyễn Thị L số tiền 4.703.500 đồng (Bốn triệu bảy trăm linh ba nghìn năm trăm đồng).
Đối trừ thanh toán chênh lệch tài sản, nghĩa vụ trả nợ và chi phí tố tụng ông Nguyễn Đình C phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 407.582.100 đồng (Bốn trăm linh bảy triệu năm trăm tám mươi hai nghìn một trăm đồng).
4. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ nộp tiền án phí trên phần tài sản được chia là 26.448.700 đồng và án phí trên phần nghĩa vụ trả nợ là 6.304.800 đồng, tổng cộng án phí 32.753.500 đồng, nhưng bà L được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu động) theo biên lai thu tiền số 0006410 ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Bà L còn phải nộp số tiền án phí là 20.753.500 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về thi hành án, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 11 tháng 10 năm 2024, ông Nguyễn Đình C là bị đơn kháng cáo với nội dung:
- Tài sản chung: Ông không nhất trí chia đôi tài sản là thửa đất số 336, tờ bản đồ số 42, diện tích 132,1m² cho bà Nguyễn Thị L vì đó là tài sản riêng của ông có trước khi kết hôn.
- Nghĩa vụ về tài sản chung: Ông không nhất trí trả 200.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng vì khoản tiền đó bà L vay và chi tiêu cá nhân.
Ngày 15/10/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 433/QĐ-VKS có nội dung: Kháng nghị một phần bản án só 63/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập về việc đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng giảm tiền án phí chia tài sản chung đối với bà L và bổ sung điều luật áp dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà L là nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; ông C là bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, không thay đổi bổ sung gì. Viện kiểm sát không thay đổi bổ sung kháng nghị và không rút kháng nghị.
Ông C trình bày: Ông có tài sản riêng là một thửa đất ở tại khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ có chiều dài mặt đường là 26m đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông. Do lâu ngày nên không nhớ năm cụ thể thì ông bán 10m đất mặt đường cho anh T2 được 200.000.000 đồng, lấy số tiền này mua ngôi nhà ba tầng của anh Nguyễn Văn T3, đồng thời phải trả thêm cho anh T3 01 ô đất có cạnh chiều dài mặt đường là 5m. Nguồn gốc ô đất trả thêm cho anh T3 là ông nhận chuyển nhượng của chị Đinh Thị T4. Khi nhận chuyển nhượng đất của chị T4 thì ông đã bán thêm 5m mặt đường cho chị Phạm Thị Bích H để lấy tiền trả tiền đất cho chị Đinh Thị T4. Ngôi nhà ba tầng và diện tích đất nhận chuyển nhượng của anh T3 thì ông được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất là thửa số 336 tờ bản đồ số 42 diện tích 142,1m² tại khu H, xã M, huyện Y, tên người sử dụng đất là tên ông và bà Nguyễn Thị L, năm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là năm 2014. Trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông và bà L không có thỏa thuận gì về thửa đất này là tài sản riêng của ông, khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông không có ý kiến gì về việc ghi tên bà Nguyễn Thị L cùng với ông trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nếu bà L muốn chia thửa số 336 tờ bản đồ số 42 diện tích 142,1m² và ngôi nhà ba tầng xây trên đất tại khu H, xã M, huyện Y thì bà L phải trả lại cho ông 970.000.000 đồng rồi mới chia tài sản. Chi tiết số tiền 970.000.000 đồng bà L phải trả lại cho ông như sau: Năm 2019 vay Ngân hàng 400.000.000 đồng, ông đã trả xong cho Ngân hàng nên bà L phải trả lại cho ông 200.000.000 đồng; bà T2 nhờ bà L tham gia hộ suất phường nhưng bà L tự ý lấy suất phường của bà T2 là 140.000.000 đồng nên Công an huyện Y đã giải quyết, khi Công an giải quyết thì bà L đã vay ông 140.000.000 đồng để trả tiền cho bà T2; bà L lấy 03 suất phường của ba nhà tổng số tiền là 180.000.000 đồng, gồm của chị H1, của cháu Đ và của anh S, toàn bộ số tiền này là bà L đã chi tiêu cá nhân hết; số tiền 50.000.000 đồng vay của Ngân hàng C1 là bà L đã tự làm thủ tục vay và nhận tiền sau đó tự chi tiêu toàn bộ số tiền này; số tiền 200.0000.000 đồng là ông bán 5m đất mặt đường là tài sản riêng của ông nhưng bà L đã cầm toàn bộ số tiền này để chi tiêu cá nhân, không chi tiêu việc gia đình; số tiền 200.000.000 đồng vay Ngân hàng N là bà L tự làm thủ tục vay và nhận tiền, sau khi nhận tiền thì bà L đã chi tiêu cá nhân hết. Đối với số tiền vay Ngân hàng C1, con trai của ông là anh Nguyễn Duy T không liên quan nên không phải có trách nhiệm trả khoản tiền này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông không giao nộp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 và ngôi nhà ba tầng xây trên đất là tài sản riêng của ông, ông cũng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh chi tiết từng mục của số tiền 970.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bà L trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 và ngôi nhà ba tầng xây trên đất là tiền của ông bà vay Ngân hàng để mua, tài sản này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông bà. Hiện nay số tiền đang nợ Ngân hàng là trước đó bà và ông C đã vay tiền của Ngân hàng để trả tiền mua nhà và sửa chữa nhà, chi tiêu việc gia đình, khi đến hạn trả thì bà và ông C vay lại của Ngân hàng để đáo hạn khoản vay trước. Bà không đồng ý trả cho ông C 970.000.000 đồng sau đó mới chia tài sản chung, vì bà không vay nợ ông C và bà không dùng số tiền vay Ngân hàng để chi tiêu cá nhân của bà. Đối với số tiền vay Ngân hàng C1, con trai của bà là anh Nguyễn Duy T không liên quan nên không phải có trách nhiệm trả khoản tiền này. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu về tố tụng và giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309, khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đình C. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập. Sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 63/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Lập theo hướng giảm tiền án phí chia tài sản chung và viện dẫn điều luật áp dụng.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông C vì là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo: Khi xét xử sơ thẩm và tuyên án, ông C có mặt tại phiên tòa. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông C đã kháng cáo bản án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ông C kháng cáo trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Vắng mặt đương sự: Ông Hoàng Quốc V là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C, anh Nguyễn Duy T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt phiên tòa lần hai. Ông Hà Đức G là người đại diện cho Ngân hàng N và ông Nguyễn Xuân T1 là người đại diện Ngân hàng C1 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, việc vắng mặt ông Hoàng Quốc V không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông nên ông C đề nghị xét xử vắng mặt ông Hoàng Quốc V. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Hoàng Quốc V, anh Nguyễn Duy T, ông Hà Đức G và ông Nguyễn Xuân T1.
[2] Về nội dung kháng cáo: Bản án dân sự sơ thẩm số 63/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Lập đã chia tài sản chung sau khi ly hôn và nghĩa vụ về tài sản chung giữa bà L và ông C nhưng ông C không đồng ý chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung nên kháng cáo bản án. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Tài sản chung: Năm 2009 bà L và ông C kết hôn. Năm 2023 bà L và ông C ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 106/2023/QÐST-HNGĐ ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập. Khi ly hôn không giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung.
Thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 diện tích đất 132,1m² (trong đó có 107m² đất ở và 25,1m² đất trồng cây lâu năm) và ngôi nhà ba tầng xây trên đất tại khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, UBND huyện Y đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX157908 ngày 26/7/2014 đứng tên người sử dụng là ông Nguyễn Đình C và bà Nguyễn Thị L. Bà L và ông C kết hôn năm 2009 và ly hôn năm 2023 nên thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 là có trong thời kỳ hôn nhân, trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông C và bà L không có văn bản thỏa thuận nào về thửa đất và tài sản trên đất là tài sản riêng của ông C. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm ông C không có tài liệu nào chứng minh thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 và ngôi nhà xây trên đất là tài sản riêng của ông C. Theo quy định tại Điều 6 và Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông C phải chứng minh cho yêu cầu phản đối của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L nhưng không có tài liệu nào chứng minh. Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 33 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 diện tích 132,1m² và ngôi nhà ba tầng xây trên đất tại khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ là tài sản chung của ông C và bà L nên đã chia là phù hợp. Vì vậy, ông C cho rằng thửa đất 336 tờ bản đồ số 42 và ngôi nhà ba tầng xây trên đất là tài sản riêng của ông C là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Bà L có tài sản riêng là thửa đất số 61.3 tờ bản đồ số 38 diện tích 170m² và nhà xây trên đất tại khu H, xã M, huyện Y, còn ông C ngoài tài sản chung với bà L là thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 và ngôi nhà ba tầng xây trên đất tại khu H, xã M, huyện Y thì không có nhà và thửa đất nào khác. Các bên đương sự không có tài liệu nào chứng minh về công sức đóng góp đối với tài sản chung nên xác định công sức đóng góp của ông C và bà L đối với thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 và ngôi nhà ba tầng xây trên đất là hai bên như nhau, Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho mỗi người được ½ tài sản, phần tài sản của bà L được chia thì giao cho ông C sở hữu, sử dụng, ông C phải thanh toán cho bà L trị giá phần tài sản của bà L giao cho ông C sở hữu, sử dụng là phù hợp.
[2.2] Nghĩa vụ về tài sản chung: Bà L và ông C đều xác định là năm 2022 vay Ngân hàng C1 50.000.000 đồng theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 20/11/2022, tính đến ngày 29/9/2024 số tiền gốc còn nợ là 50.000.000 đồng và tiền lãi là 443.836 đồng; năm 2023 vay Ngân hàng N 300.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 2716-LAV-202300430 đã ký ngày 16/02/2023, tính đến ngày 29/9/2024 số tiền gốc còn nợ là 200.000.000 đồng và tiền lãi là 1.747.954 đồng. Ông C cho rằng số tiền vay Ngân hàng C1 là bà L tham gia hội phường nên vay tiền của Ngân hàng để nộp tiền phường, còn số tiền vay Ngân hàng N là bà L nhờ ông đứng ra làm thủ tục vay để bà L lấy tiền đầu tư làm ăn nhưng bà L không thừa nhận số tiền vay hai Ngân hàng là bà L vay riêng. Xét thấy số tiền vay của hai Ngân hàng là đang trong thời kỳ hôn nhân, khi vay Ngân hàng N thì ông C đã ủy quyền cho bà L làm thủ tục vay vốn, khi ủy quyền đã lập hợp đồng và chứng thực tại UBND xã M, còn số tiền vay Ngân hàng C1 là vay theo chương trình hộ gia đình để phát triển kinh tế. Theo quy định tại Điều 6 và Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông C phải chứng minh cho yêu cầu phản đối của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L nhưng không có tài liệu nào chứng minh. Căn cứ Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, khoản 1 Điều 37 và Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền gốc và lãi hiện nay còn nợ hai Ngân hàng là nợ chung của bà L và ông C, buộc mỗi bên có trách nhiệm trả Ngân hàng ½ số tiền gốc và lãi là phù hợp. Vì vậy, ông C cho rằng số tiền vay hai Ngân hàng là khoản tiền vay riêng của bà L là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Ông C và bà L đều xác định anh T không liên quan đến số tiền vay Ngân hàng C1 nên anh T không phải trả Ngân hàng số tiền này.
[2.3] Từ những nhận định trên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông C về giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung. Giữ nguyên phần quyết định của bản án dân sự sơ thẩm về giải quyết chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung đối với bà L và ông C.
[3] Về nội dung kháng nghị: Bản án dân sự sơ thẩm số 63/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Lập đã buộc ông C phải trả cho bà L số tiền chi phí tố tụng và buộc bà L phải chịu án phí dân sự đối với tài sản được chia là 26.448.700 đồng, án phí đối với nghĩa vụ trả nợ là 6.304.800 đồng. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập đã kháng nghị đối với bản án về số tiền án phí chia tài sản mà bà L phải nộp do tính không đúng; bản án không áp dụng điều luật khi giải quyết chi phí tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Về án phí: Bà L và ông C có tài sản chung là thửa đất số 336 tờ bản đồ số 42 và ngôi nhà ba tầng xây trên đất. Hội đồng định giá đã định giá thửa đất là 494.050.000 đồng, ngôi nhà ba tầng là 563.899.000 đồng, tổng tài sản nhà và đất trị giá 1.057.949.000 đồng. Mỗi người được chia ½ tài sản nên số tiền của bà L được chia là 528.974.500 đồng, ông C được chia là 528.974.500 đồng. Theo quy định tại điểm c tiểu mục 1.3 mục 1 phần II của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch thì tài sản tranh chấp từ 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, mức thu là 5% giá trị tài sản có tranh chấp; từ trên 400.000.000 đồng đến dưới 800.000.000 đồng, mức thu là 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng. Bà L được chia tài sản trị giá 528.974.500 đồng nên án phí được tính như sau: 20.000.000 đồng + (128.974.500 đồng x 4%) = 25.158.980 đồng. Như vậy, bà L phải chịu án phí đối với phần tài sản được chia là 25.158.980 đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tính án phí bà L phải chịu là 26.448.700 đồng là không đúng với Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên Viện kiểm sát đã kháng nghị phần án phí đối với bà L theo hướng giảm án phí là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì vậy, sửa bản án dân sự sơ thẩm về phần án phí chia tài sản chung đối với bà L, còn phần án phí nghĩa vụ về tài sản chung của bà L thì giữ nguyên do không có kháng nghị và không giải quyết lại nghĩa vụ về tài sản chung.
[3.2] Về điều luật áp dụng khi giải quyết số tiền chi phí tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp:
Số tiền chi phí tố tụng: Số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 9.407.000 đồng. Bà L và ông C mỗi người được chia ½ tài sản nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà L và ông C mỗi người phải chịu ½ số tiền chi phí tố tụng là phù hợp với khoản 2 Điều 157 và khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng phần quyết định của bản án không nêu căn cứ vào điều luật để quyết định là thực hiện không đúng hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đó là tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.
Thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Phần nhận định của bản án dân sự sơ thẩm đã nhận định về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và viện dẫn từng điều luật cụ thể. Phần quyết định của bản án không nêu điều luật về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp là phù hợp, vì phần quyết định của bản án là buộc các đương sự phải thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ giữa các đương sự với nhau nên chỉ cần nêu điều luật áp dụng về nội dung giải quyết.
Vì vậy, Viện kiểm sát kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm về việc không áp dụng điều luật khi giải quyết số tiền chi phí tố tụng là có căn cứ nên được chấp nhận, còn kháng nghị về phần không áp dụng điều luật của thẩm quyền Tòa án giải quyết vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là không phù hợp. Việc sai sót không áp dụng điều luật để giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm không làm thay đổi bản chất vụ án nên không cần sửa bản án về nội dung này, Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[4] Về các nội dung khác của bản án: Do không có kháng cáo, kháng nghị nên không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông C kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm. Xét thấy ông C là người cao tuổi, người dân tộc sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho ông C.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đình C. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập. Sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ về phần án phí đối với bà Nguyễn Thị L; giữ nguyên phần quyết định của bản án về phần chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Đình C.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm e khoản 5 Điều 27 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản được chia là 25.158.980 đồng và án phí thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung là 6.304.800 đồng. Tổng số tiền án phí bà Nguyễn Thị L phải nộp là 31.463.780 đồng (Ba mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi đồng), nhưng được được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006410 ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Bà Nguyễn Thị L còn phải nộp 19.463.780 đồng (Mười chín triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Đình C vì là người cao tuổi, người dân tộc sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Chiên |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-PT ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của anh C. Chấp nhận kháng nghị của VKS. Sửa bản án sơ thẩm về phần án phí
