Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 08/4/2025

V/v "Ly hôn, chia tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp;

Ông Phạm Văn Tâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thủy T - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2025/TLPT-DS ngày 14/02/2025 về tranh chấp “Ly hôn và chia tài sản”.

Do Bản án Hôn nhân Gia đình sơ thẩm số 64/2024/ST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số H đường N, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
  • * Bị đơn: Bà Dương Ngọc H, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số H đường N, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh. có mặt.
  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Kim P, sinh năm 1994. Địa chỉ: Số H đường N, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
  • * Người làm chứng:
    • - Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
    • - Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1958. Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
  • * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Dương Ngọc H: Ông Đặng Tấn L, Luật sư Văn phòng luật sư Đặng Tấn L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T, có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn – bà Dương Ngọc H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 17 tháng 5 năm 2024 và lời trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1 thể hiện như sau:

Ông và bà Dương Ngọc H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1992, có đăng ký kết hôn. Ông bà chung sống hạnh phúc, có 02 người con chung, đến năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bà H không quan tâm chăm sóc gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu ly hôn với bà H.

Về con chung: Hiện các con đã thành niên, có khả năng lao động và đã có gia đình riêng nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung gồm có: Phần đất diện tích 108,5 m², thuộc thửa đất số 76, tờ bản đồ số 28, tọa lạc khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh do vợ chồng ông bà đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và căn nhà cấp 4 xây cất trên đất diện tích 74,1 m². Nguồn gốc phần đất trên là của ông bà nhận chuyển nhượng từ ông R với giá 10,5 chỉ vàng 24k vào năm 1991, căn nhà do vợ chồng xây cất sau đó khoảng 01 năm. Nay ông yêu cầu được chia đôi tài sản, mỗi người được hưởng 50% và ông được nhận giá trị.

Bị đơn bà Dương Ngọc H trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của ông T1 về quan hệ hôn nhân và con chung. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do mỗi lần ông T1 đi đánh bạc thua về hay chửi mắng bà, đập phá đồ đạc trong nhà. Nay ông T1 yêu cầu ly hôn bà đồng ý.

Về tài sản chung: Phần đất diện tích 108,5 m² trên có nguồn gốc do cha mẹ ruột bà nhận chuyển nhượng của ông Hồ Văn R vào năm 1991, sau đó tặng cho bà vào thời điểm trước khi vợ chồng cưới nhau. Hiện giấy sang nhượng đất thổ cư ngày 14/12/1991 mà cha mẹ bà nhận chuyển nhượng bà còn giữ và đã cung cấp cho Toà án từ giai đoạn sơ thẩm. Việc kê khai đăng ký làm thủ tục cấp GCNQSDĐ do ông Thái T3 thực hiện nên cả hai vợ chồng cùng đứng tên.

Việc ông T1 yêu cầu được chia đôi tài sản, mỗi người 50%, bà không đồng ý vì nguồn gốc phần đất là do cha mẹ ruột bà mua cho bà vào năm 1991, hơn nữa trong thời gian chung sống ông T1 không tạo ra thu nhập chỉ biết cờ bạc, không lo lắng cho gia đình. Nay bà yêu cầu được chia 80%, ông T1 được chia 20%, bà yêu cầu nhận hiện vật, thanh toán lại giá trị cho ông T1.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Kim P trình bày:

Chị là con ruột của ông T1 và bà H, hiện chị đang bán thuốc tây tại căn nhà của cha mẹ chị. Trước khi mở cửa hàng chị có xây sửa phần phía trước. Nay cha mẹ chị ly hôn và chia tài sản chị không có ý kiến hay yêu cầu gì.

Tại Bản án Hôn nhân Gia đình sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ các Điều 33, Điều 56, Điều 59, Điều 62 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 147, 157 và 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn T1 với bà Dương Ngọc H. Ông T1 được ly hôn với bà H.
  2. Về con chung: Hiện các con đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
  3. Về chia tài sản chung: Bà Dương Ngọc H được quyền sử dụng và sở hữu:
    • - Phần đất có diện tích 108,5 m² (102 m² ODT và 6,5 m² HNK) thuộc thửa đất số 76, tờ bản đồ số 28 (VN2000), tọa lạc khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh do ông Nguyễn Văn T1 và bà Dương Ngọc H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp thửa đất số 75 dài 5,92 mét.
      • Hướng Tây giáp đường N dài 5,95 mét.
      • Hướng Nam giáp thửa đất số 78 dài 18,14 mét.
      • Hướng Bắc giáp thửa đất số 73 dài 18,46 mét.
      • (Có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo)
      • Cùng căn nhà cấp 4 trên đất.
    • Buộc bà Dương Ngọc H có nghĩa vụ thanh toán lại 50% giá trị chia tài sản cho ông T1 theo giá trị tài sản tại thời điểm xét xử là 1.500.000.000 đồng.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà H đối với số tiền 301.300.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm trả, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 27/12/2024, bà H có đơn kháng cáo không đồng ý việc chia tài sản chung vợ chồng theo tỷ lệ 5-5, yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng theo tỷ lệ 7-3. Tại phiên toà phúc thẩm, bà H thay đổi yêu cầu đề nghị giao tài sản cho ông T1 và bà nhận giá trị tài sản.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H trình bày: Nguồn gốc tài sản tranh chấp là của cha bà H - ông Dương Văn C cho bà H trước khi kết hôn thể hiện tại giấy chuyển nhượng đất thổ cư ngày 14/12/1991. Chứng cứ này phù hợp với lời trình bày của bà Hồ Thị T4 (con ruột của ông Hồ Văn R) và những người làm chứng tại phiên toà phúc thẩm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H và lời đề nghị của bà H tại phiên toà, giao tài sản cho ông T1 quản lý, sử dụng, ông T1 có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà 70% giá trị tài sản.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá chứng cứ, xác định phần đất có diện tích 108,5 m² cùng căn nhà cấp 4 trên đất là tài sản chung vợ chồng và chia cho ông T1, bà H mỗi người hưởng 50% giá trị tài sản chung là có căn cứ, nên không chấp nhận kháng cáo yêu cầu của bà H được hưởng 70%, ông T1 hưởng 30%, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy :

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của bà H về phần tài sản:

Tài sản tranh chấp là phần đất có diện tích 108,5 m² tọa lạc khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh cùng căn nhà trên đất, có tổng giá trị 3.000.000.000 đồng. Theo ông T1 nguồn gốc phần đất tranh chấp có nguồn gốc do vợ chồng ông mua của ông R giá 10,5 chỉ vàng 24k vào tháng 12/1991 sau khi ông bà tổ chức đám hỏi, trong đó phần góp của ông là 05 chỉ vàng và của bà H là 5,5 chỉ vàng. Do hộ khẩu của ông còn ở T nên ông có nhờ cha mẹ của bà H đứng ra giao dịch và đứng tên trên giấy tay mua bán. Sau đó, vợ chồng ông cất nhà và được Nhà nước cấp GCNQSDĐ do hai vợ chồng ông đứng tên. Còn bà H xác định nguồn gốc do cha mẹ ruột bà nhận chuyển nhượng của ông Hồ Văn R vào năm 1991 (có giấy sang nhượng đất thổ cư ngày 14/12/1991 giữa cha mẹ bà và gia đình ông R), sau đó tặng riêng cho bà trước khi vợ chồng cưới nhau.

Xét thấy, việc ông T1 trình bày có góp 05 chỉ vàng để mua đất và nhờ cha mẹ bà H đứng ra thoả thuận nhận chuyển nhượng đất dùm nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh, trong khi đó bà H xuất trình chứng cứ là bản chính “Giấy tay sang nhượng đất thổ cư” lập ngày 14/12/1991 thể hiện ông Hồ Văn R cùng 05 người con chuyển nhượng phần đất diện tích 132m² với giá 20 chỉ vàng cho ông Dương Văn C và bà Huỳnh Ngọc D là cha mẹ của bà H. Mặc dù, ông T1, bà H không xác định chính xác ngày kết hôn nhưng đều thừa nhận kết hôn vào năm 1992 sau thời điểm nhận chuyển nhượng phần đất trên. Tại cấp phúc thẩm, phía bị đơn có cung cấp chứng cứ là bản tường trình của bà Hồ Thị T4 (con ruột của ông Hồ Văn R), người làm chứng là ông Huỳnh Văn H1, ông Huỳnh Văn T2 đều xác định phần đất tranh chấp là tài sản của bà H được cha mẹ cho trước khi kết hôn.

Do đó, có cơ sở xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình bà H, tuy nhiên sau khi kết hôn, ông T1, bà H đã cùng xây nhà trên đất và cùng đứng tên trên GCNQSDĐ do nhà nước cấp. Cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp là tài sản chung vợ chồng là có cơ sở nhưng chưa xem xét đến nguồn gốc tài sản, chia tài sản tranh chấp theo tỷ lệ 5-5 là chưa phù hợp với quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H, cần sửa bản án sơ thẩm chia tài chung vợ chồng theo tỷ lệ bà H 60% và ông T1 là 40%. Do tài sản có nguồn gốc phía gia đình bà H nên cần giao bà H quản lý, sử dụng tài sản và thanh toán giá trị tài sản cho ông T1 là có căn cứ.

[2] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà H và lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, cần sửa bản án sơ thẩm, bà H được quyền quản lý sử dụng phần nhà, đất tranh chấp và thanh toán lại cho ông T1 40% trị giá tài sản với số tiền là 1.200.000.000 đồng

[3] Về án phí:

  • - Ông Nguyễn Văn T1 và bà Dương Ngọc H được miễn án phí.
  • - Hoàn trả cho bà Dương Ngọc H tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp

[4] Về chi phí tố tụng:

Ông T1 và bà H, mỗi người phải chịu 1.500.000 đồng chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ. Ghi nhận ông T1 đã nộp và chi phí xong nên bà H có nghĩa vụ nộp lại để trả cho ông T1.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Dương Ngọc H

Sửa Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ các Điều 33, Điều 56, Điều 59, Điều 62 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 147, 157 và 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn T1 với bà Dương Ngọc H. Ông T1 được ly hôn với bà H.
  2. Về con chung: Hiện các con đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
  3. Về chia tài sản chung: Bà Dương Ngọc H được quyền sử dụng và sở hữu:
    • - Phần đất có diện tích 108,5 m² (102 m² ODT và 6,5 m² HNK) thuộc thửa đất số 76, tờ bản đồ số 28 (VN2000), tọa lạc khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh do ông Nguyễn Văn T1 và bà Dương Ngọc H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp thửa đất số 75 dài 5,92 mét.
      • Hướng Tây giáp đường N dài 5,95 mét.
      • Hướng Nam giáp thửa đất số 78 dài 18,14 mét.
      • Hướng Bắc giáp thửa đất số 73 dài 18,46 mét.
      • (Có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
    • - Tài sản công trình trên đất: Căn nhà cấp 4 (nền gạch bông, mái lộp tole, tường xây gạch, trần la phông) diện tích 74,1 m²; quầy thuốc tây (vách nhôm, kiếng) diện tích 14,1 m² và 01 mái che lợp tole diện tích 34,4 m². Tọa lạc khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

    Buộc bà Dương Ngọc H có nghĩa vụ thanh toán lại 40% giá trị chia tài sản cho ông T1 với số tiền là 1.200.000.000 (Một tỷ hai trăm triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

    Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với quyết định của bản án này.

  4. Về nợ chung: Ông T1 và bà H khai không có nên không xem xét giải quyết.
  5. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà H đối với số tiền 301.300.000 (Ba trăm lẻ một triệu ba trăm nghìn) đồng.
  6. Về án phí:
    • - Ông Nguyễn Văn T1 và bà Dương Ngọc H được miễn án phí.
    • - Hoàn trả cho bà Dương Ngọc H tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 7.532.500 (Bảy triệu năm trăm ba mươi hai nghìn năm trăm) đồng theo biên lai thu số 0012298 ngày 25-7-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
  7. Về chi phí tố tụng:

    Ông Nguyễn Văn T1 và bà Dương Ngọc H, mỗi người phải chịu 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ. Ghi nhận ông T1 đã nộp và chi phí xong nên bà H có nghĩa vụ nộp lại để trả cho ông T1.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND huyện Bến Cầu;
  • - CCTHADS huyện Bến Cầu;
  • - Phòng KTNV & THA tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ; tập án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-PT ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về ly hôn, chia tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger