Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 08/2025/HNGĐ -

ST Ngày: 23 - 5 -2025.

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bảo Thanh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Quang Trân;

2. Bà Lành Thị Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Ma Văn Chung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Dinh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2025/TLST - HNGĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đặng Hà A - sinh năm 1996. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Triệu Hoàng H - sinh năm 1982. Trú tại: Tổ G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hiện đang chấp hành án tại Đội 14, P, Trại giam T – Bộ C; địa chỉ: Xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Trong đơn xin ly hôn ngày 14 tháng 3 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Đặng Hà A trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Hà A và anh Triệu Hoàng H có đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 28/8/2017 tại Ủy ban nhân dân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc.

Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị A và anh H bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh H thường xuyên chơi bời không quan tâm đến vợ con. Từ năm 2021 mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng dẫn đến thường xuyên cãi vã, có lúc xảy ra xô sát.

Đến ngày 20/01/2024 anh H bị bắt tạm giam và sau đó bị xét xử, chấp hành án về tội danh tàng trữ trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên hai vợ chồng không sống cùng nhau từ ngày 20/01/2024 đến nay. Từ khi anh H bị bắt tạm giam đến nay chị A xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn quan hệ hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

* Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh H có 01 (một) con chung là Triệu Hoàng Q, sinh ngày 01/4/2018, con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con chung vì hiện nay anh H đang chấp hành án. Các điều kiện sống, ăn ở, cũng như thu nhập của chị A đủ để đảm bảo nuôi sống và phát triển cho con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị A không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Về vay nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Đối với bị đơn Triệu Hoàng H:

Quá trình giải quyết vụ án anh H đang chấp hành án tại Đội 14, P, Trại giam T – Bộ C. Toà án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Triệu Hoàng H theo quy định. Toà án cũng tiến hành làm việc tại nơi anh H chấp hành án để thực hiện thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, cho anh H viết bản tự khai và thực hiện các thủ tục khác theo quy định. Tại bản tự khai, biên bản hoà giải anh Triệu Hoàng H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị A kết hôn hợp pháp và tự nguyện năm 2017. Cuộc sống vợ chồng vẫn hạnh phúc. Đến ngày 20/01/2014 anh H bị bắt và bị Toà án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La kết án 05 năm tù. Đến nay, chị A có đơn xin ly hôn nhưng anh H không nhất trí vì bản thân vẫn còn tình cảm với vợ và con.

Về con chung: Đúng như chị A trình bày, anh chị có 01 con chung tên Triệu Hoàng Q, sinh ngày 01/4/2018. Anh H không yêu cầu giải quyết con chung trong vụ án này.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Chị A phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Anh H xác định bản thân là phạm nhân, không thể có mặt tại Toà để giải quyết việc ly hôn với chị Đặng Hà A. Đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.

3. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành thu thập chứng cứ xác định: Có sự việc mâu thuẫn giữa chị A và anh H.

4. Tại phiên toà:

  • - Các đương sự đều vắng mặt nên không có trình bày tại phiên tòa.
  • - Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:
    • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thẩm tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng các quy định về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà nguyên đơn, bị đơn đều có đề nghị xét xử vắng mặt; Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
    • + Về việc giải quyết vụ án: Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 264; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Đặng Hà A.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Hà A được ly hôn với anh Triệu Hoàng H.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung là Triệu Hoàng Q, sinh ngày 01/4/2018 cho Chị Đặng Hà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị A không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Đặng Hà A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn Triệu Hoàng H có nơi cư trú tại tổ G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn Đặng Hà A, bị đơn Triệu Hoàng H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 227; Điều 228/BLTTDS tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn Đặng Hà A, bị đơn Triệu Hoàng H.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Hà A và anh Triệu Hoàng H có đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 28/8/2017 tại Ủy ban nhân dân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chủ yếu chung sống tại tổ G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn từ năm 2019 đến 2024. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính tình, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng dẫn đến thường xuyên cãi vã, có lúc xảy ra xô sát. Đến ngày 20/01/2024 anh H bị bắt tạm giam và sau đó phải chấp hành án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên hai vợ chồng không sống cùng nhau từ 20/01/2024 đến nay. Từ khi anh H bị bắt tạm giam đến nay hai bên không thể hàn gắn quan hệ hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị A khẳng định không còn tình cảm vợ chồng với anh H và cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh H đã có mâu thuẫn, xảy ra trong thời gian dài, ngày càng trầm trọng. Từ ngày 20/01/2024 khi anh H bị bắt và chấp hành án tù thì vợ chồng không có khả năng hàn gắn quan hệ hôn nhân. Với tình trạng cuộc sống hôn nhân như trên là có vi phạm về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, về tình nghĩa vợ chồng. Tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần thiết chấp nhận yêu cầu cương quyết xin ly hôn của chị A, cho chị A được ly hôn anh H.

[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Hà A và anh Triệu Hoàng H có 01 (một) con chung là Triệu Hoàng Q, sinh ngày 01/4/2018, con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường. Quá trình giải quyết vụ án chị A xin được nuôi con chung Triệu Hoàng Q đến năm con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H xác định có con chung là Triệu Hoàng Q như trên, tuy nhiên anh H không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề nuôi con chung trong vụ án này.

Hội đồng xét xử xét thấy: Để giải quyết toàn diện vụ án và vì quyền lợi của con chung chưa thành niên nên hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vấn đề nuôi con chung trong vụ án. Xác định, hiện nay anh H đang chấp hành án không thể nuôi con chung. Chị A thực tế đã tiến hành nuôi con chung và đảm bảo cho con chung phát triển bình thường trong thời gian anh H chấp hành án. Hiện nay, chị A có nhà đất, nơi ở ổn định để đảm bảo chăm sóc con chung Triệu Hoàng Q.

Do vậy, việc giao cho chị Anh nuôi con chung là đảm bảo và phù hợp với việc duy trì sự ổn định, hạn chế xáo trộn môi trường sống và giáo dục của con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chị A: Giao con chung Triệu Hoàng Q, sinh ngày 01/4/2018 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Chị A không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, nên hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[2.4] Về vay nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn Đặng Hà A phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

[4] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 264; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Hà A.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Hà A được ly hôn anh Triệu Hoàng H.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

    Giao con chung là Triệu Hoàng Q, sinh ngày 01/4/2018 cho chị Đặng Hà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung Triệu Hoàng Q đủ 18 tuổi. Chị Đặng Hà A không yêu cầu anh Triệu Hoàng H cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn anh Triệu Hoàng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
  4. Về vay nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Đặng Hà A phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0001978, ngày 01/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Xác nhận chị A đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Đặng Hà A, bị đơn Triệu Hoàng H đều vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b);
  • - VKSND huyện Chợ Mới (03b);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (01b);
  • - Các đương sự (02b);
  • - UBND phường Sông Cầu, TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (Nơi đăng ký kết hôn);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bảo Thanh Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: A + H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger