Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 08 /2025/HC-ST

Ngày: 12-06-2025

V/v khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.

  • Các Hội thẩm nhân dân:Ông Võ Hoàng Nguyên;

  • Ông Trần Ngọc Đằng.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Được - Kiểm sát viên

Trong các ngày 30/5/2025 và ngày 12/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2025/TLST-HC ngày 21 tháng 02 năm 2025 về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HC ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969.

  • Địa chỉ: khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

  • Người bị kiện: - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H

  • - Ủy ban nhân dân huyện H.

Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Hùng D- chức vụ: Chủ tịch;

Cùng địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện H và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H là ông Nguyễn Hoàng N – Trưởng Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện H.

(Ông T, ông N có mặt tại phiên tòa, Chủ tịch UBND huyện H, Ủ huyện H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 20/12/2024 của người khởi kiện ông Nguyễn Văn T trình bày:

Vào năm 1978 cha tôi ông Nguyễn Văn N1 sinh năm 1929 (chết năm 2006) khai hoang và canh tác đất diện tích là 9.500m² cập kênh Tử Thường tọa lạc tại xã T, huyện H. Hiện trạng đất 1 đầu giáp kênh T và 1 đầu giáp đường nước và phần ở giữa là 01 cái bào lạn. Sau đó cha tôi giao đất này lại cho tôi canh tác. Đến tháng 8/2004 tôi được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với phần đất ở 02 đầu kênh và đường nước với tổng diện tích là 6.910m², thửa số 15, tờ bản đồ số 2, còn phần diện tích đất bào lạn ở giữa có diện tích 2.600m² thì Nhà nước chưa có chủ trương cấp QSDĐ. Trong thời gian canh tác thì tôi có thổi cát lắp bào canh tác lúa.

Giáp với đất bào là phần đất ruộng của bà S. Năm 2004 Nhà nước thu hồi đất làm Cụm D, có thu hồi đất của bà S (kế bên đất tôi). Còn đất tôi thì không dính quy hoạch. Đến khi Nhà nước múc đất bà S1 để đổ cụm dân cư thì có đổ 01 đường bờ ranh giữa đất tôi và đất Nhà nước (bà S) chiều cao là 1,2m, chiều ngang 4m và có cẩm 01 trụ đá ranh ngay đầu đường bờ, hiện tại vẫn còn.

Đến tháng 4/2022 thì tôi có chuyển nhượng cho bà Đoàn Thị D1 phần diện tích 6.910m², thửa số 15 và tôi đã sang tên chuyển quyền xong. Cho đến tháng 1/2022 thì tôi đến Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện H xin đăng ký cấp QSDĐ đối với phần đất còn lại 2.600m² thì Văn phòng đăng ký trả lời đất đăng ký thuộc thửa 67, tờ bản đồ số 69 là đất công do Nhà nước quản lý thuộc dự án Cụm D, nên không xác lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho tôi (theo công văn số 112, ngày 11/1/2022 và công văn số 2006 ngày 6/7/2022 của Chi nhánh V).

Năm 2023 bà D1 mua đất của tôi rồi lấn xuống làm luôn phần đất 2.600m²; Tôi ra cản thì bà nói đất của Nhà nước chứ không phải đất tôi. Tôi tranh chấp xã giải quyết cho bà D1 làm, không cho tôi làm nên hiện nay phần đất này do bà D1 sử dụng.

Tôi không đồng ý và tháng 3/2023 tôi khiếu nại thì UBND Huyện trả lời bằng công văn 523 cho rằng đất công do Nhà nước quản lý và đã được UBND T1 giao cho Ban Q đất Huyện quản lý theo Quyết định số 80 ngày 13/3/2018.

Tôi không đồng ý với việc cho rằng đất công của Nhà nước quản lý bởi vì phần đất này cha tôi khai mở sử dụng từ năm 1987 năm 1991 tôi thổi cát vô lắp bào và sử dụng ổn định lâu dài trên 40 năm không ai tranh chấp. Nhiều năm qua tôi đăng ký thì xã bảo Nhà nước chưa có chủ trương cho đăng ký, người dân cứ tiếp tục sử dụng. Năm 2018 tôi đăng ký QSDĐ nhưng xã, H đều cho rằng chưa có chủ trương cho đăng ký đất. Thì sao H bảo Nhà nước quản lý đất này mà tôi vẫn còn sử dụng đầu tư trên đất là xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của tôi. Đất của tôi cũng không phải qui hoạch cụm dân cư. Phần đất tôi và phần đất của Nhà nước có ranh giới mốc giới do Nhà nước cấm rõ ràng cụ thể hiện nay vẫn còn thì sao nói là đất của Nhà nước được. Năm 2022 tôi làm hồ sơ đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ thì UBND Thường Thới Tiền ký xác nhận đất tôi đang sử dụng hợp pháp.

Tháng 12/2023 tôi làm đơn khiếu nại công văn số 523 thì Chủ tịch UBND huyện giải quyết không chấp nhận cấp QSDĐ cho tôi, giữ nguyên Công văn số 523 mà cho rằng đất này là của bà S đã được Nhà nước thu hồi nên thuộc đất công của Nhà nước (theo Quyết định số 725/QĐ-UBND ngày 8/3/2024 của Chủ tịch UBND Huyện H). Tôi không đồng ý vì nếu là đất công sao Nhà nước lại đắp đường bờ ranh có đóng cột mốc phân biệt giữa đất công và đất dân. Nếu là đất Nhà nước sao xã cho bà D1 canh tác, tôi không được canh tác và không được cấp QSDĐ.

Tôi làm đơn khiếu nại yêu cầu nhanh chóng xem xét, xác minh tận nơi đất tranh chấp và giải quyết hủy công văn số 523 ngày 10/4/2023 của UBND huyện H và Quyết định số 725/QĐ-UBND ngày 8/3/2024 của Chủ tịch UBND huyện H. Đồng thời, tôi yêu cầu giải quyết cấp giấy quyền sử dụng đất cho tôi đối với phần đất diện tích 2.600m², thuộc một phần thửa 67, tờ bản đồ số 29 tọa lạc xã T, huyện H để tôi thực hiện các quyền nghĩa vụ của người sử dụng đất theo qui định của Luật đất đai. Thì Chủ tịch UBND huyện H ra Quyết định số 3791 ngày 28/8/2024 thu hồi, hủy bỏ Quyết định 725 và Thông báo 523. Nhưng lại ra Thông báo 326 không thụ lý giải quyết khiếu nại của tôi.

* Tại phiên đối thoại, ông Nguyễn Văn T trình bày:

  • Năm 2004, tôi đăng ký phần diện tích đất lần đầu do ba ruột tôi chuyển nhượng cho tôi với diện tích 6.910m² (thửa đất số 15) và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về thửa số 67, đất cũng do ba ruột tôi chuyển nhượng lại cho tôi nhưng chưa kê khai đăng ký.

  • Năm 2022, tôi xin đăng ký quyền sử dụng đất thửa đất 67 được Ủy ban ký xác nhận đất được sử dụng hợp pháp, tuy nhiên, không có giấy tờ để chứng minh.

* Theo Văn bản ý kiến số 422/UBND-NC ngày 11/3/2025 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện H trình bày:

Theo bản đồ địa chính được phê duyệt năm 2000, ông Nguyễn Văn N2 (cha ruột ông Nguyễn Văn T) có sử dụng diện tích là 7.170,0m², thuộc thửa số 31 và số 32, tờ bản đồ số 02, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (thể hiện trên Sổ mục kê ghi tên ông Nguyễn Văn N2).

Năm 2003, Nhà nước thực hiện Dự án Cụm D, đã thu hồi đất của 23 hộ dân để thực hiện dự án, tổng diện tích 127.164,4m²; trong đó: Diện tích quy hoạch là 56.260,0m², còn lại 70.904,4m² thuộc phạm vi lấy đất đắp công trình. Ông Nguyễn Văn T không có tên trong Phương án đền bù và phê duyệt giá thi công Cụm dân cư Nam Hang thuộc xã T, huyện H.

Ngày 20/8/2004, hộ ông Nguyễn Văn T xác lập thủ tục đăng ký đất đai và được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: 001505/QSDĐ/4402/QĐ-UB, diện tích 6.910,0m² đất lúa, thuộc thửa số 15, tờ bản đồ số 02, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 13/3/2018, Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành Quyết định số 80/QĐ-UBND-NĐ về việc giao cho Ban Quản lý Dự án và Phát triển quỹ đất huyện Q quản lý diện tích 72.981,0m² đất nuôi trồng thủy sản, thuộc thửa số 67, tờ bản đồ số 02, xã T (nay là xã T), huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 26/5/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H xác nhận nội dung thay đổi trên trang 4, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T ngày 20/8/2004, với nội dung: Đổi tên xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp thành xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; đồng thời cùng ngày 26/5/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H cũng xác nhận thay đổi như sau: Số mới của tờ bản đồ là tờ 29 do thay đổi địa giới hành chính.

Ngày 05/8/2022, hộ ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B, diện tích 6.907,0m² đất trồng lúa nước, thuộc thửa số 15, tờ bản đồ số 02, xã T, huyện H (theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực ngày 25/7/2022, số chứng thực 426, quyển số: 01/2022-SCT/HĐ,GD) và bà Nguyễn Thị B được Chi nhánh Văn phòng Đ chỉnh lý trên trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trước đây cho hộ ông Nguyễn Văn T (số vào số GCN: 001505/QSDĐ/4402/QĐ-UB, cấp ngày 20/8/2004). Sau đó, bà Nguyễn Thị B đã chuyển nhượng thửa đất này cho bà Đoàn Thị N3 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực ngày 08/9/2022, số chứng thực 535, quyển số: 01/2022-SCT/HĐ,GD) và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS06714, ngày 27/9/2022, diện tích 6.910,0m² đất chuyên trồng lúa nước, thuộc thửa số 15, tờ bản đồ số 29, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 15/12/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng lý đất đai huyện H tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một phần thửa số 67, tờ bản đồ số 29, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp của hộ ông Nguyễn Văn T.

Ngày 11/01/2023, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H ban hành Công văn số 112/CNVPĐKĐĐHHN-KTĐC về việc trả lại hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn T, với nội dung: Thửa số 67, tờ bản đồ số 29, hộ ông Nguyễn Văn T đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phần đất thuộc Cụm dân cư Nam Hang, đất công do Nhà nước quản lý.

Ngày 15/3/2023, ông Nguyễn Văn T có đơn kiến nghị yêu cầu hủy Công văn số 112/CNVPĐKĐĐHHN-KTĐC ngày 11/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H và yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.600,0m² tại xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 10/4/2023, Ủy ban nhân dân huyện H ban hành Văn bản số 523/UBND-HC về việc trả lời đơn của ông Nguyễn Văn T, ngụ khóm T, huyện H, với nội dung: Việc ông T yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.600,0m² thuộc một phần thửa số 67, tờ bản đồ số 29, xã T 2 là không phù hợp quy định pháp luật; lý do: Phần đất ông T yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc đất do Nhà nước quản lý và đã được Ủy ban nhân dân Tỉnh G Quản lý Dự án và Phát triển quỹ đất huyện H quản lý theo Quyết định số 80/QĐ-UBND-NĐ ngày 13/3/2018 (thửa số 67, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T).

Ông Nguyễn Văn T không đồng ý với văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân huyện H.

Ngày 26/6/2023, ông Nguyễn Văn T làm đơn khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân Tỉnh yêu cầu hủy Công văn số 523/UBND-HC ngày 10/4/2023 của UBND huyện H và giải quyết cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ông đối với phần diện tích 2.600m², thuộc thửa số 67, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 30/6/2023, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Văn bản số 862/VPUBND-TCD-NC về truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh H, giao Sở T kiểm tra, rà soát nội dung đơn của ông Nguyễn Văn T.

Ngày 19/9/2023, Sở T ban hành Văn bản số 3979/STNMT-TTr, kiến nghị: Giao Chủ tịch UBND huyện H giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn T theo thẩm quyền.

Ngày 13/12/2023, Văn phòng Ủ ban hành Văn bản số 341/VPUBND-TCD về truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND Tỉnh - Phạm Thiện N4, giao Chủ tịch UBND huyện H xem xét giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn T đúng thẩm quyền quy định. Báo cáo kết quả UBND Tỉnh.

Ngày 08/3/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H ban hành Quyết định số 725/QĐ-UBND, giải quyết: Bác đơn khiếu nại yêu cầu của ông Nguyễn Văn T. Ông Nguyễn Văn T không thống nhất quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và tiếp tục khiếu nại đến chủ tịch UBND tỉnh Đ, giao Sở T (nay là Sở N) tham mưu giải quyết.

Ngày 19/7/2024 Sở T tại Báo cáo số 324/BC-STNMT về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Văn T. Ngày 31/7/2024, văn phòng UBND tỉnh Đ ban hành Công văn số 578/VPUBND-TCD truyền đạt ý kiến chỉ đạo của UBND Tỉnh: Giao Chủ tịch UBND huyện H thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 725/QĐ-UBND ngày 08/3/2024 của Chủ tịch UBND huyện H về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn T; đồng thời, ban hành Thông báo không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn T theo đúng quy định pháp luật.

Ngày 28/8/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện đã ban hành Quyết định số 3791/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 725/QĐ-UBND ngày 08/3/2024 và Thông báo số 323/TB-UBND ngày 29/12/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H; đồng thời, ban hành Thông báo số 326/TBUBND ngày 28/8/2024 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn T theo đúng quy định pháp luật.

Như vậy, về trình tự, thủ tục ban hành công văn 523 và thông báo 326 Ủy Ban nhân dân và Chủ tịch UBND Huyện H đã thực hiện đúng theo quy định các Điều 5, 6, 7, 8, 10, 14, 18 Thông tư số: 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ về Quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính và Điều 18, 27, 28, 29, 30, 31, 32 Luật Khiếu nại 2011.

[3.2] Về nội dung ban hành công văn 523 và thông báo 326:

Từ những căn cứ như đã nêu trên, việc ông T khiếu nại yêu cầu giải quyết cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông đối với phần diện tích 2.600m², thuộc thửa số 67, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nhưng ông T không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng mình rằng phần đất ông yêu cầu thuộc quyền sử dụng đất của ông. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 11 Luật Khiếu nại 2011 “Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;”. Vì vậy, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H ban hành Thông báo số 326/TB-UBND về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại và Công văn số 523/UBND-HC về việc trả lời đơn ông Nguyễn Văn T là đúng quy định của pháp luật.

[4] Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của ông T là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Tại phiên tòa, xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của ông T không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm theo quy định khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính và khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/TUBT QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1, 3 Điều 158, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính 2015;

Căn cứ vào quy định tại các Điều 18, 27, 28, 29, 30, 31, 32 của Luật khiếu nại 2011;

Căn cứ vào quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8, 11, 18, 21 Thông tư số: 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ về Quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

Căn cứ Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại;

Căn cứ Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định Quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/TUBT QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu hủy Công văn số 523/UBND-HC, ngày 10/4/2023 của UBND huyện H, tỉnh Đồng Tháp về việc trả lời đơn và Thông báo số 326/TB-UBND ngày 28/8/2024 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H.

- Về án phí: ông Nguyễn Văn T phải nộp 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0000066 ngày 19/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Người khởi kiện được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị kiện được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Cục THADS Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, THC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Võ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08 /2025/HC-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 08 /2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN T- UBND H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger