Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 08/2025/DS-PT

Ngày: 21-02-2025

V/v: “Tranh chấp di sản thừa kế”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Ông Bùi Minh Thư

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXX-PT ngày 09/01/2025 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 13/TB- TA ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lưu Thế A, sinh năm 1987, địa chỉ: Đường N, TDP T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

Đồng nguyên đơn: Chị Lưu Thị M, sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ D, khu phố C, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Lưu Thị M: Anh Lưu Thế A. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Cao T, sinh năm 1953, địa chỉ: Đường N, TDP T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

3. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Lê Thị C, sinh năm 1950, địa chỉ: Đường N, TDP T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

3.2. Ông Lê Văn L, sinh năm 1953, địa chỉ: Đường N, TDP T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

3.3. Ông Lê Tiến H, sinh năm 1956, địa chỉ: Đường N, TDP T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

3.4. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1964, địa chỉ: Đường N, TDP T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

3.5. Anh Lê Hồng Q, sinh năm 1990, chị Lê Thị Hồng L1, sinh năm 1994; địa chỉ: Đường N, TDP T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

3.6. Anh Lê Văn T2, sinh năm 1983, địa chỉ: TDP L, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

3.7. Chị Lê Thị A1, sinh năm 1985, địa chỉ: TDP D C, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

3.8. Bà Đào Thị K, sinh năm 1956: địa chỉ: Đường N, TDP T, phường Đ, Thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đào Thị K: Ông Lê Cao T, sinh năm 1953; địa chỉ: Đường N, TDP T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lưu Thế A trình bày:

Ông, bà ngoại của anh là ông Lê Văn S, sinh năm 1912, mất năm 1984 và bà Bùi Thị N (Tên gọi khác Lê Thị S1), sinh năm 1918 mất năm 2014; Ông bà ngoại anh có tất cả 08 người con gồm: Lê Văn K1 (liệt sỹ đã mất không có vợ, con), Lê Thị C, Lê Cao T, Lê Văn L, Lê Văn T3 (sinh năm 1953, mất 1987 có 02 người con Lê Văn T2, Lê Thị A1), Lê Thị T1, Lê Tiến H, và mẹ anh Lê Thị V (sinh năm 1962, mất năm 2001), không có con riêng, con nuôi nào khác. Di sản bà Bùi Thị N để lại là thửa đất số 729, tờ bản đồ số 04, diện tích 1207.4m² (trong đó có 400m² đất ở) tại xóm A, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 171697 do UBND thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho bà Bùi Thị N ngày 12/12/2006, số vào sổ cấp GCNQSDĐ 00958 UB - 2006. Nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ số 6, tại Tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Thửa đất bà Bùi Thị N đã bị thu hồi 02 lần, lần 1 để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình đường N, diện tích thu hồi là 92,8 m² loại đất thu hồi là đất trồng cây lâu năm, lần 2 để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện nâng cấp tuyến đường N, thu hồi 66,2 m² loại đất thu hồi là đất ở đô thị. Bà Bùi Thị N chết không để lại di chúc, đồng thời các đồng thừa kế không tự thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nên anh khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, cụ thể:

- Chia di sản thừa kế bà Bùi Thị N để lại là thửa đất số 729, tờ bản đồ số 04, diện tích 1207.4m² tại xóm A, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ số 6, tại Tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Chia di sản thừa kế số tiền 607.298.686 đồng ông Lê Cao T đã nhận từ Hội đồng bồi thường, hổ trợ tái định cư công trình đường N, thị xã H trong quá trình đền bù do một phần diện tích đất của bà Bùi Thị N bị thu hồi để làm đường.

Quá trình giải quyết vụ án đối với yêu cầu chia di sản thừa kế số tiền 607.298.686 đồng ông Lê Cao T đã nhận từ Hội đồng bồi thường, hổ trợ tái định cư công trình đường N, thị xã H. Các đồng thừa kế trong vụ án đã được nhận mỗi suất thừa kế trị giá 74.200.000đ và không có ý kiến khiếu nại gì đối với yêu cầu này. Vì vậy, anh A1 Lưu Thế A đã có văn bản rút yêu cầu khởi kiện đối với nội dung này. Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế là thửa đất bà Bùi Thị N để lại, anh Lưu Thế A đồng ý nhận phần thừa kế theo như vị trí và cách chia các đồng thừa kế đã trình bày trong quá trình Tòa án giải quyết cụ thể: Đối với phần đất nhà thờ giữ nguyên, thống nhất giao lại cho ông Lê Cao T quản lý. Đối với phần đất bám mặt đường N chia 4 suất thừa kế gồm: Phần đất tôi (Lưu Thế A) được hưởng; Tiếp đến phần đất của anh Lê Văn T2 và chị Lê Thị A1 được hưởng; Phần đất tiếp theo của bà Lê Thị C; Phần tiếp đến đất của ông Lê Cao T. Phần đất phía sau ngách D, ngõ D đường N, chia 4 suất thừa kế, vị trí như sau: Đầu tiên là phần đất nhà thờ; Tiếp đến đất ông Lê Văn L; Tiếp đến đất bà Lê Thị T1 và sau cùng là phần đất ông Lê Tiến H. Về diện tích đất các đồng thừa kế được hưởng, về chiều rộng các suất thừa kế tính bằng nhau theo chiều ngang bám đường N và chiều bám ngõ D đường N (Phần đất nhà thờ là cố định). Về chiều dài mỗi suất đất thừa kế theo bản đồ đo vẻ còn lại chiều dài như thế nào thì mỗi suất thừa kế sẽ được bằng ½ chiều dài toàn bộ thửa đất thừa kế (Phần chiều dài thừa sau nhà thờ được tính vào đất nhà thờ); Về diện tích suất đất thừa kế theo sơ đồ đo vẻ nếu diện tích ai dôi dư thì sẽ tự thương lượng thỏa thuận với nhau. Trường hợp không thỏa thuận được thì sẽ tự tháo dở. Các đồng thừa kế trong vụ án đều đã nhất trí phương án, cách thức chia như vậy, chỉ có gia đình ông Lê Văn L không chịu tháo dở phần công trình lấn sang phần đất được chia cho các đồng thừa kế khác nên vụ án mới kéo dài, phức tạp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử trên cơ sở thống nhất ý kiến trình bày của các đồng thừa kế khác để xem xét giải quyết vụ án phù hợp quy định pháp luật.

Chị Lưu Thị Mai E ruột anh Lưu Thế A cũng đã có văn bản rút yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế số tiền 607.298.686 đồng ông Lê Cao T đã nhận từ Hội đồng bồi thường, hổ trợ tái định cư công trình đường N, thị xã H. Về yêu cầu chia thừa kế là thửa đất bà Bùi Thị N để lại chị M trình bày thống nhất với anh Lưu Thế A về diện thừa kế, tài sản thừa kế, cách chia thừa kế, đồng thời vì điều kiện lấy chồng xa quê, con nhỏ nên chị xin phép vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ủy quyền lại cho anh Lưu Thế A được toàn quyền giải quyết vụ án, tiếp quản và nhận kỷ phần thừa kế chị được hưởng.

* Bị đơn ông Lê Cao T trình bày: Thống nhất thửa đất số 729, tờ bản đồ số 04, diện tích 1207.4m² (trong đó có 400m² đất ở) tại xóm A, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ số 6, tại Tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh là di sản thừa kế do mẹ là cụ Bùi Thị N để lại để chia đều cho các đồng thừa kế. Đối với số tiền 607.298.686 đồng ông đã nhận từ Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư công trình đường N, thị xã H các đồng thừa kế trong vụ án đã nhận mỗi suất thừa kế như nhau trị giá 74.200.000đ, quyền lợi được hưởng như nhau nên về nghĩa vụ cũng phải có trách nhiệm như nhau. Về cách chia di sản thừa kế tôi là con trai cả trong gia đình trước đây cũng đã đề xuất cách chia như cháu Lưu Thế A đã trình bày: Đối với phần đất bám mặt đường N chia 4 suất thừa kế; Phần đất phía sau ngách D, ngõ D đường N trừ phần đất nhà thờ là cố định giữ nguyên, chia 3 suất thừa kế. Về diện tích suất đất thừa kế theo sơ đồ đo vẻ nếu diện tích ai dôi dư thì sẽ tự thương lượng thỏa thuận với nhau. Trường hợp không thỏa thuận được thì sẽ tự dở bỏ. Theo cách chia như trên phần đất của tôi có tài sản nhà tôi xây lấn sang đất bà Lê Thị C tôi sẽ tự tháo dở, bà Lê Thị T1 có tài sản lấn sang đất ông Lê Tiến H bà T1 cũng nhất trí tháo dở, chỉ có gia đình ông L cố tình không tháo dở phần dôi dư trên phần đất giáp ranh cháu Lê Văn T2 và Lưu Thế A nên mới kéo dài vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định pháp luật và thực tế sử dụng cũng như nội dung các đương sự trong vụ án đã thống nhất để giải quyết theo quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C, ông Lê Tiến H, anh Lê Văn T2, chị Lê Thị A1 trình bày thống nhất ý kiến trình bày của anh Lưu Thế A, ông Lê Cao T về nội dung và cách chia di sản thừa kế:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1 trình bày: Bà nhất trí việc chia di sản thừa kế về vị trí chia, cách thức chia, liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ bà phải thực hiện việc tháo dở phần nhà đã xây lấn sang phần đất ông Lê Tiến H. Việc tháo dở ảnh hưởng toàn bộ kết cấu ngôi nhà, mặc dù nhà bà đã xuống cấp nhưng cũng ảnh hưởng đến việc sắp xếp chổ ở, sinh hoạt nên bà có nguyện vọng được lưu trú trên nhà trong thời gian khoảng 12 tháng, nếu không được thì cho phép sau 6 tháng khi án có hiệu lực mới tháo dở. Đối với phần tài sản mái hiên nhà cháu Lê Hồng Q và Lê Thị Hồng L1 lấn sang phần đất tôi, tôi không yêu cầu các cháu phải tháo dở. Đồng thời bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt vì lý do bà đi giúp việc xa quê không thể thường xuyên về để tham gia trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn L trình bày: Ông nhất trí vị trí, cách chia di sản thừa kế như các đương sự trong vụ án đã trình bày. Đối với phần đất thừa kế ông được hưởng, ông đã cho con trai Lê Hồng Q và con dâu Lê Thị Hồng L1 xây nhà nên ông thống nhất nhường lại toàn bộ kỷ phần thừa kế ông được chia cho con trai anh Lê Hồng Q và con dâu chị Lê Thị Hồng L1. Tại thời điểm Q và L1 xây nhà đã được cấp phép xây dựng, được ông Lê Cao T, ông Lê Tiến H trực tiếp đo đất để xây nhà. Sau khi làm đường N lấy vào 2m, nên phần nhà của Q và L1 mới dôi ra một phần chiều dài, chứ gia đình ông không lấn chiếm đất của ai.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 trình bày: Anh chị được bố và bác Lê Cao T, chú Lê Tiến H đo đất và nhất trí cho xây nhà tại vị trí hiện tại, việc xây dựng được cấp phép, hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, gia đình đã xây dựng nhà kiên cố sinh sống ổn định, không lấn chiếm của ai. Sau khi làm đường N, lấy vào 2m nên phần nhà xây dựng của vợ chồng mới bị dôi dư ra, việc đền bù đất mỗi suất được hưởng 74.200.000đ, gia đình xây dựng dôi dư gần một mét đất, gia đình đã có nguyện vọng trả 30.000.000₫ cho anh A, anh T2, chị A để giữ khỏi phải tháo dở, nhưng anh em không còn tình nghĩa gì với nhau nên không thể thương lượng được. Anh chị nhất trí nhận phần di sản thừa kế là đất ông L được chia thừa kế tại vị trí nhà đất anh chị hiện sinh sống và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị K trình bày: Bà là vợ ông Lê Cao T, vợ chồng bà góp công sức, tiền của xây nhà tại thửa đất chia thừa kế, trước đây có cho vợ chồng anh Lê Mạnh N1 thuê để ở nhưng hiện tại họ đã chuyển đi nhà để không. Đối với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế di sản bà Bùi Thị N để lại bà không có ý kiến gì, bà ủy quyền lại cho ông Lê Cao T giải quyết toàn bộ, bà xin phép vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh cho thấy:

- Thửa đất số 729, tờ bản đồ số 04, địa chỉ: Xóm A, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ số 06, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh). Thửa đất 04 mặt tiền, hướng Đông giáp đường đất, hướng Tây giáp đường giao thông, hướng Nam giáp đường bê tông (ngách D, ngõ D đường N) hướng Bắc giáp đường N. Trên thửa đất hiện có 05 công trình: Nhà thứ nhất ngôi nhà thờ kiên cố, xây dựng bằng gạch, lợp ngói đỏ, nền nhà lát gạch hoa, sân nhà thờ lát gạch đỏ, mái che và tường bao xung quanh, nhà thờ này do các con, cháu bà Bùi Thị N xây dựng, ông Lê Cao T là tộc trưởng, quản lý nhà thờ; Nhà thứ hai là ngôi nhà hiện anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 đang sinh sống, nhà xây dựng kiên cố, xây bằng gạch đỏ, đổ bằng lợp mái, phía trước sân có mái che, phía sau là công trình phụ, khu vực chăn nuôi, có hàng rào bao quanh, cổng bằng sắt; Nhà thứ ba là nhà bà Lê Thị T1, ngôi nhà xây bằng gạch táp lô, dạng nhà cấp bốn, mái lợp tôn, có tường bao quanh, ngôi nhà được xây dựng nhiều năm hiện đã xuống cấp, hiện chỉ một mình bà Lê Thị T1 sinh sống; Ba ngôi nhà này nằm cùng phía, bám đường đất (ngách D ngõ D đường N). Nhà thứ tư: Nhà bà Lê Thị C, nhà 02 gian, được xây bằng gạch táp lô, lợp ngói đỏ, trần nhựa (Đây là ngôi nhà do UBND phường Đ hỗ trợ xây dựng cho hộ nghèo), hiện chỉ một mình bà Lê Thị C sinh sống; Nhà thứ năm: Nhà ông Lê Cao T, nhà được xây bằng gạch táp lô, phía trên lợp tôn, trước đây gia đình ông Lê Cao T cho vợ chồng anh Lê Mạnh N1 thuê nhà, nhưng sau đó gia đình anh N1 đã chuyển đi, hiện ngôi nhà để trống không ai sinh sống; Hai ngôi nhà này nằm cùng phía, bám đường N. Ngoài ra trên thửa đất còn có 01 cái giếng nước nằm giữa nhà đất bà Lê Thị T1 và anh Lê Hồng Q; 01 ngôi nhà bếp cạnh nhà bà Lê Thị C.

Về kết quả định giá tài sản: Thửa đất có giá đất ở là 1.680.000đ/m², giá đất vườn 61.400đ/m². Trị giá tài sản sân, hàng rào, mái che, nhà ở các hộ gia đình đã xây dựng trên thửa đất thừa kế cụ thể như sau: Nhà anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 748.095.603đ; Nhà bà Lê Thị T1 62.509.840đ; Nhà bà Lê Thị C 77.319.000đ; Nhà ông Lê Cao T 110.058.570đ. Đối với nhà thờ các đương sự trong vụ án không yêu cầu định giá. Đối với 01 cái giếng nước nằm giữa nhà đất bà Lê Thị T1 và anh Lê Hồng Q; 01 ngôi nhà bếp cạnh nhà bà Lê Thị C là di sản thừa kế bà Bùi Thị N để lại nhưng đã không còn giá trị sử dụng nên các đương sự cũng thống nhất không định giá.

Quá trình giải quyết vụ án xác định thửa đất số 38, tờ bản đồ số 6 đã bị thu hồi 02 lần: Lần 1: Theo Quyết định số 2027/QĐ – UBND ngày 23/10/2019 của Ủy ban nhân dân thị xã H quyết định về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình chỉnh trang đô thị nâng cấp tuyến đường nối Quốc lộ A với đường N, thu hồi 92,8 m² loại đất thu hồi là đất trồng cây lâu năm. Lần 2: Theo Quyết định số 2763/QĐ – UBND ngày 16/12/2022 của Ủy ban nhân dân thị xã H quyết định về việc thu hồi đất để bồi thường hổ trợ, tái định cư thực hiện công trình nâng cấp tuyến đường N, phường Đ, thị xã H (đợt C) thu hồi 66,2 m² đất ở. Sau khi thu hồi thửa đất bà Bùi Thị N vẫn chưa làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo diện tích đất mới. Diện tích đất bà Bùi Thị N là 1.207,4 m² sau hai lần thu hồi diện tích còn lại phải là 1.048,4m² nhưng theo kết quả đo đạc do Văn phòng Đ, chi nhánh thị xã H - C thực hiện, diện tích hiện tại là 1148,7 m², chênh lệch 100,3 m².

Tại Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh:

Áp dụng Điều 5, khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 227, Điều 244, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 610, 612, 623, 649, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự 2015; Điều 203 Luật đất đai 2013, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ- UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lưu Thế A và chị Lưu Thị M về chia di sản thừa kế bà Bùi Thị N để lại là thửa đất số 729, tờ bản đồ số 04 (Nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ số 06, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh) diện tích 1.148,7 m² trong đó có 333,8 m² đất ở, cụ thể như sau:

- Giao cho ông Lê Cao T được hưởng thừa kế thửa đất có vị trí tự cận và kích thước như sau:

  • + Phía Đông giáp đường đất dài 16,725m
  • + Phía Tây giáp đất bà Lê Thị C dài 16,59m;
  • + Phía Nam giáp đất ông Lê Tiến H rộng 8,6m;
  • + Phía Bắc giáp đường N rộng 8,6m;

Tổng diện tích ông Lê Cao T được hưởng 145,0 m² trong đó có 47,68 m² đất ở (Theo sơ đồ đo vẻ ký hiệu S8 kèm theo bản án). Trên đất có 01 ngôi nhà nhà của ông Lê Cao T và bà Đào Thị K xây dựng.

- Giao cho bà Lê Thị C được hưởng thừa kế thửa đất có vị trí tứ cận và kích thước như sau:

  • + Phía Đông giáp đất ông Lê Cao T dài 16,59m
  • + Phía Tây giáp đất anh Lê Văn T2 và chị Lê Thị A1 dài 16,46m;
  • + Phía Nam giáp đất bà Lê Thị T1 rộng 8,6m;
  • + Phía Bắc giáp đường N rộng 8,6m;

Tổng diện tích bà Lê Thị C được hưởng 141,8 m² trong đó có 47,68 m² đất ở (Theo sơ đồ đo vẻ ký hiệu S7 kèm theo bản án). Trên đất có 01 ngôi nhà hiện bà Lê Thị C đang sử dụng.

- Giao cho anh Lê Văn T2 và chị Lê Thị A1 được hưởng thừa kế thửa đất có vị trí tứ cận và kích thước như sau:

  • + Phía Đông giáp đất bà Lê Thị C dài 16,46m
  • + Phía Tây giáp đất anh Lưu Thế A dài 16,32m;
  • + Phía Nam giáp đất anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 rộng 8,6m;
  • + Phía Bắc giáp đường N rộng 8,6m;

Tổng diện tích anh Lê Văn T2 và chị Lê Thị A1 được hưởng 140,9 m² trong đó có 47,68 m² đất ở (Theo sơ đồ đo vẻ ký hiệu S6 kèm theo bản án).

- Giao cho anh Lưu Thế A được hưởng thừa kế thửa đất có vị trí tứ cận và kích thước như sau:

  • + Phía Đông giáp đất anh Lê Văn T2 và chị Lê Thị A1 dài 16,32m
  • + Phía Tây giáp đường giao thông dài 16,4m; (chia làm 02 đoạn gắn, gồm: Đoạn 1: Dài 13,24m; Đoạn 2: Dài 3,87m);
  • + Phía Nam giáp đất nhà thờ rộng 9,12m;
  • + Phía Bắc giáp đường N rộng 8,6m, (chia làm 02 đoạn gắn, gồm: Đoạn 1: Dài 6,26m; Đoạn 2: Dài 3,87m);

Tổng diện tích anh Lưu Thế A được hưởng 140,0 m² trong đó có 47,68 m² đất ở (Theo sơ đồ đo vẻ ký hiệu S5 kèm theo bản án) .

- Giao cho anh Lê Hồng Q, chị Lê Thị Hồng L1 được quản lý sử dụng thửa đất có vị trí tứ cận và kích thước như sau:

  • + Phía Đông giáp đất bà Lê Thị T1 dài 16,33m
  • + Phía Tây giáp đất nhà thờ dài 16,45m;
  • + Phía Nam giáp đường bê tông rộng 9,1m;
  • + Phía Bắc giáp đất anh Lê Văn T2 và chị Lê Thị A1 rộng 9,2m;

Tổng diện tích đất anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 được hưởng 151,9 m² trong đó có 47,68 m² đất ở, 104,22m² đất vườn (theo sơ đồ đo vẻ ký hiệu S2 kèm theo bản án sơ thẩm), trị giá thửa đất được giao 86.501.508đồng (Tám sáu triệu năm trăm linh một ngàn năm trăm linh tám đồng). Trên đất có 01 ngôi nhà của anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 hiện đang sử dụng.

- Bà Lê Thị T1 được hưởng thừa kế thửa đất có vị trí tứ cận và kích thước như sau:

  • + Phía Đông giáp đất ông Lê Tiến H dài 16,63m
  • + Phía Tây giáp đất ông Lê Văn L dài 16,33m;
  • + Phía Nam giáp đường bê tông rộng 9,1m;
  • + Phía Bắc giáp đất bà Lê Thị C rộng 9,2m;

Tổng diện tích đất bà Lê Thị T1 được hưởng 151,5 m² trong đó có 47,68 m² đất ở, 103,82m² đất vườn (Theo sơ đồ đo vẻ ký hiệu S3 kèm theo bản án sơ thẩm), trị giá thửa đất được giao 86.476.948đồng (tám mươi sáu triệu bốn trăm bảy sáu ngàn chín trăm bốn tám đồng). Trên đất có phần nhà của bà Lê Thị T1 đã xây dựng.

- Ông Lê Tiến H được hưởng thừa kế thửa đất có vị trí tứ cận và kích thước như sau:

  • + Phía Đông giáp đất đường đất dài 16,725m
  • + Phía Tây giáp đất bà Lê Thị T1 dài 16,63m;
  • + Phía Nam giáp đường bê tông rộng 9,1m;
  • + Phía Bắc giáp đất ông Lê Cao T rộng 9,2m;

Tổng diện tích đất ông Lê Tiến H được hưởng 152,0 m² trong đó có 47,68 m² đất ở và 104,32m² đất vườn (theo sơ đồ đo vẻ ký hiệu S4 kèm theo bản án sơ thẩm), trị giá thửa đất được giao 86.507.648đồng (tám mươi sáu triệu năm trăm linh bảy ngàn sáu trăm bốn tám đồng).

- Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của các đồng thừa kế về phần đất nhà thờ và tài sản trên đất nhà thờ thuộc quyền sở hữu chung của các đồng thừa kế, giao cho ông Lê Cao T là tộc trưởng quản lý, phần đất nhà thờ có vị trí tứ cận và kích thước như sau:

  • + Phía Đông giáp đất ông Lê Văn L dài 16,45m
  • + Phía Tây giáp đường giao thông dài 16,4m;
  • + Phía Nam giáp đường bê tông rộng 7,96m;
  • + Phía Bắc giáp đất anh Lưu Thế A rộng 7,32m;

Tổng diện tích đất nhà thờ 125,6 m² (theo sơ đồ đo vẻ ký hiệu S1 kèm theo bản án sơ thẩm). Toàn bộ phần đất nhà thờ là đất vườn.

Các đương sự ông Lê Cao T, bà Lê Thị C, anh Lê Văn T2, chị Lê Thị A1, anh Lưu Thế A, anh Lê Hồng Q, chị Lê Thị Hồng L1, bà Lê Thị T1, ông Lê Tiến H có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

[2]. Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lưu Thế A và chị Lưu Thị M về chia di sản thừa kế số tiền 607.298.686 đồng ông Lê Cao T đã nhận từ Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư công trình đường N, thị xã H, đình chỉ xem xét đối với yêu cầu này.

[3]. Buộc ông Lê Cao T phải tháo dỡ phần nhà lấn sang đất bà Lê Thị C tổng diện tích là 4,6m² gồm các cạnh kích thước lần lượt là 4,69m, 1,06m, 4,69m, 0,93m.

Buộc bà Lê Thị T1 phải tháo dỡ phần nhà lấn sang đất ông Lê Tiến H diện tích là 6m² gồm các cạnh kích thước lần lượt là 2,33m, 2,68m, 2,22m, 2,63m và diện tích 11,74m² gồm các cạnh kích thước lần lượt là 2,22m, 5,52m, 1,97m, 5,53m.

Buộc anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 phải tháo dỡ phần công trình phụ lấn sang đất anh Lê Văn T2 và chị Lê Thị A1 diện tích là 3,55m² gồm các cạnh kích thước lần lượt là 2,33m, 0,93m, dích dắc 0,11m, 0,56m, 2,44m, 1,50m và diện tích 4,7m² gồm các cạnh kích thước lần lượt là 5,06m, 0,92m, 4,97m, 0,93m, đồng thời tháo dở phần chăn nuôi lấn sang đất anh Lưu Thế A diện tích 2,31m² gồm các cạnh kích thước lần lượt là 1,8m, 1,5m, 1,5m, 1,51m. Không xem xét phần tài sản anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 xây dựng lấn chiếm sang phần đất bà Lê Thị T1.

[4]. Về chi phí tố tụng: Anh Lưu Thế A đã tạm ứng trước tổng 4.550.000 đồng (Bốn triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) gồm chi phí trích đo sơ đồ thửa đất thừa kế, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Do đó, cần buộc mỗi suất thừa gồm ông Lê Cao T, bà Lê Thị C, anh Lê Văn T2 và chị Lê Thị A1, anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1, bà Lê Thị T1, ông Lê Tiến H phải đưa lại cho anh Lưu Thế A 650.000 đồng (S2 trăm năm mươi ngàn đồng).

[5]. Về án phí:

[5.1]. Án phí sơ thẩm: Anh Lưu Thế A phải chịu 4.288.500 đồng án phí dân sự giá ngạch, nhưng được trừ vào số tiền 2.500.000 đồng anh A đã nộp theo biên lai số 0004393, ngày 28/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Anh Lưu Thế A phải nộp tiếp số tiền án phí còn lại là 1.788.500 đồng (Một triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn năm trăm đồng).

Anh Lê Văn T2 và chị Lê Thị A1 phải chịu 4.291.300 đồng (Bốn triệu hai trăm chín mươi mốt ngàn ba trăm đồng) án phí dân sự giá ngạch.

Anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 phải chịu 4.325.075 đồng (Bốn triệu ba trăm hai mươi lăm ngàn không trăm bảy lăm đồng) án phí dân sự giá ngạch.

Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Cao T, bà Lê Thị C, bà Lê Thị T1, ông Lê Tiến H.

[5.2]. Án phí phúc thẩm: Buộc anh Lê Hồng Q và chị Lê Thị Hồng L1 mỗi phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002006 ngày 26/9/2024 của Chi cục thu hành án dân sự thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TA, VKS, THA sơ thẩm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Hồ Đức Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp di sản thừa kế

  • Số bản án: 08/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị N- Trần Thị N1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger